Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức. Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu" Bao trùm lên khổ thơ là cả một tâm trạng "cô đơn". Lần đầu tiên gặp "cảnh thân tù" Tố Hữu cảm thấy cô đơn, thèm khát cuộc sống rộn rã bên ngoài.
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức. Ngoài kia là ánh sáng, là niềm vui náo nức; trong này là lạnh lẽo, sầm u. Ngoài kia là tự do, trong này là ngục tối. Nỗi cô đơn như thấm thía vào từng đường gân thớ thịt người tù. Không phải ngẫu nhiên, đoạn thơ "Cô đơn thay
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu ! Đây âm u đôi cánh lạt ban chiếu Lên nhè nhẹ qua rào ở cửa nhỏ Đây lạnh lẽo bốn tường vôi khắc khổ Đây sàn kim, manh ván ghép sầm u
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu! Đây âm u đôi ánh lạt ban chiều Len nhè nhẹ qua rào ô cửa nhỏ Đây lạnh lẽo bốn tường vôi khắc khổ Đây sàn lim, manh ván ghép sầm u.. Cô đơn thay là cảnh thân tù! Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực
Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!" Cho nên hàng ngày anh vẫn lắng nghe "tiếng đời lăn náo nức" từ bên ngoài dội vào. Để nắm bắt được những cái đó, anh chỉ có thể bằng một giác quan duy nhất: tai nghe. Từ âm thanh. qua trí
XQz3Zo. "Cô đơn thay là cảnh thân tù! Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu! Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về ..." Câu 1 a Nêu nội dung và phương thức biểu đạt chính của văn bản trên b Khi ở trong tù, tác giả đã nghe được những âm thanh nào? c Đọc đoạn thơ, em hiểu gì về người chiến sĩ cách mạng trong cảnh tù đày? Câu 2 a Chỉ ra một câu cảm thán có trong văn bản trên. Vì sao em biết đó là câu cảm thán? b Em hãy đặt một câu nghi vấn dùng để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc và cho biết đó là tâm trạng, cảm xúc gì?
Biển cả ngàn năm nay vẫn không ngừng dào dạt sóng, sóng biển có lúc mạnh mẽ ào ạt, lúc lại êm đềm vỗ về bờ cát cũng giống như lớp lớp sóng lòng trong tâm hồn thi nhân vậy. Đứng trước cuộc đời bao la, người nghệ sĩ xúc cảm, những cơn sóng lòng tràn lên con chữ mà thành thơ. Nói về thơ, Nguyễn Đình Thi cho rằng “Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới cuộc sống”. Bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi đã thể hiện rõ điều này. Thơ là hình thức sáng tác nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu để diễn tả những xúc cảm trào dâng nơi tâm hồn nhà thơ. “Tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất” mà Nguyễn Đình Thi đề cập tới ở đây chính là những rung động mãnh liệt bật ra trong một phút thăng hoa trước thế giới. Thế giới là gì nếu không phải là hiện thực khách quan, nơi sự sống vang lên mạnh mẽ? “Đụng chạm tới cuộc sống” chính là lúc mà người nghệ sĩ đối diện, thâm nhập vào đời sống để hiểu đời, hiểu người, từ đó đưa hơi thở ấm áp ấy vào thơ, tạo nên bao dòng cảm xúc bất tận. Với cách nói hình ảnh, Nguyễn Đình Thi khẳng định vai trò của hiện thực và xúc cảm đối với người làm nghệ thuật nói chung cũng như làm thơ nói riêng. Hiện thực là nguồn cội, là cơ sở làm nảy sinh những tình cảm đẹp để từ đó, thơ được thai nghén, được ra đời. Điều này xuất phát từ đặc trưng của thơ. Quá trình sáng tác thơ là mối quan hệ chặt chẽ giữa hiện thực – tác giả - tác phẩm. Lắng nghe “tiếng đời lăn náo nức”, sống giữa cuộc đời muôn hình vạn trạng, hẳn mỗi người đều có cho mình những “hỉ, nộ, ái, ố”. Thế nhưng, ở các nghệ sĩ, đặc biệt là nhà thơ, những “hỉ, nộ, ái, ố” đó không dừng lại ở thứ cảm xúc trung bình chủ nghĩa, nhàn nhạt mà nó thăng hoa để “trong một phút nổ ra như tiếng sét” Chế Lan Viên, để ngòi bút ghi lên trang giấy không phải là những con chữ mà là “những tiếng lòng đang nhảy múa” Xuân Diệu . Làm thơ nghĩa là cuộc hành trình của cảm xúc, những tình cảm sẽ dẫn dắt ngòi bút thi nhân đến những miền thơ mới lạ, đẹp đẽ khác thường. Không có hiện thực thì không có cảm xúc mà không có cảm xúc thì không làm được thơ. Đó là mối tương giao chặt chẽ, có quan hệ hữu cơ với nhau không thể tách rời. “Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học” Tố Hữu. Đến với trang thơ Cảnh ngày hè, ta cảm nhận được sâu sắc hình bóng cuộc đời trong từng con chữ và những rung động rất thực trong tâm hồn nhà thơ – một vị đại quan về ở ẩn tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và nỗi niềm yêu nước thương dân. Đứng trước thiên nhiên, ông đã có những cảm nhận thật độc đáo Rồi, hóng mát thuở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi hương Câu thơ mở đầu với cách ngắt nhịp 1/2/3 sáng tạo đã diễn tả trạng thái ung dung, phong thái của một con người say sưa trước vẻ đẹp thiên nhiên trong những “ngày trường”. Nào, hãy theo chân thi nhân và cùng đắm mình vào không gian hấp dẫn ấy. Mở ra trước mắt người đọc là hình ảnh cây hòe xanh mát, tán ngày càng tỏa rộng khiến ngày hè như dịu lại. Từ láy “đùn đùn” đầy sức tạo hình, diễn tả sức sống căng tràn trong cây hòe cũng như trong cảnh vật khi hè đến. Một sức sống mạnh mẽ như ấp ủ từ cuối đông sang xuân và đến hè thì bừng dậy, trỗi dậy khắp cây cỏ muôn phương. Trong một bài thơ khác, ông viết Có thuở ngày hè trương tán lục Đùn đùn bóng rợp cửa tam công Ngòi bút Nguyễn Trãi không chỉ tràn ngập hùng tâm tráng chí của thời đại Bình Ngô mà còn hừng hực lửa sống của đời, của người. Không chỉ có cây hòe mà còn cây lựu với những chùm hoa đỏ rực cũng được miêu tả đầy ấn tượng qua động từ “phun”. Một và chỉ một động từ đó thôi cũng đủ để ta hình dung sự sống như có hình khối, màu sắc, có thể cảm nhận trực tiếp bằng thị giác một cách trực tiếp. Sắc đỏ của hoa lựu được đặt cạnh sắc xanh của cây hòe làm nên sự đối chọi nhưng cũng rất hài hòa, tinh tế. Nguyễn Trãi dường như không chỉ là một nhà thơ mà còn là một nhà họa sĩ với những nét màu rất sắc, rất hấp dẫn thị giác người xem. Chẳng thế mà có nhà nghiên cứu đã nhận xét “Ta bất ngờ nhận ra điều trùng hợp đến kì lạ. Con người Nguyễn Trãi sao thật giống với danh họa Hà Lan Van – gốc. Không phải ở những màu sắc biểu hiện mà ở cách diễn tả chúng. Van – gốc vẽ cánh đồng ta tưởng như cánh đồng bốc cháy, hàng cây bên đường cũng quằn quại vệt lửa. Còn Nguyễn Trãi, những chữ “đùn đùn”, “phun” ... ấy là lửa trong lòng nhà thơ...” Một “cuộc chơi” màu sắc làm bức tranh ngày hè sống động đến vô cùng. Sau này, ta cũng gặp “cuộc chơi” đó trong thơ hiện đại. Xuân Diệu viết Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh Tố Hữu – một nhà thơ cách mạng lại có cái nhìn tươi mới hơn Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Có thể thấy, Nguyễn Trãi là người đi tiên phong trong việc đưa những sắc màu sinh động của cuộc sống vào thơ và rất thành công trong việc miêu tả bức tranh cảnh ngày hè. Nhưng như vậy đâu đã đủ. Bên cạnh những hình ảnh, màu sắc rực rỡ đó, mùa hè còn hấp dẫn thi nhân bằng hương sen ngan ngát “Hồng liên trì đã tiễn mùi hương”. Lại một lần nữa cách dùng từ của Ức Trai khiến ta thích thú. Động từ “tiễn” như mang hương sen đi khắp không gian, tỏa vào đất trời và thấm vào lòng người. Đọc câu thơ khiến ta như thực sự bước vào thế giới mùa hè sống động đó. Càng sống động hơn khi ta được lắng nghe Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương Tâm hồn Nguyễn Trãi như bao trùm lên cảnh vật, cảm nhận và thấu hiểu thế giới xung quanh bằng con mắt âu yếm, trân trọng. Tiếng ve xôn xao, vang động trong không gian được gói trong một từ “dắng dỏi” đầy sức gợi. Vậy là bức tranh thiên nhiên vừa rực rỡ sắc màu, thoang thoảng mùi hương lại náo nức âm thanh. Mọi giác quan đều được bừng thức trước cảnh vật mùa hè, tình yêu thiên nhiên dâng trào qua từng con chữ, đi vào lòng người đọc một cách tự nhiên, đầy ấn tượng. Đó chính là “tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất” của tâm hồn Ức Trai trước cảnh vật mùa hè. Bên cạnh tình yêu thiên nhiên là tình yêu cuộc sống chan chứa. Chỉ với một câu thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ”, tác giả đã diễn tả được âm thanh vang động của cuộc sống, âm thanh của ấm no, của yên bình mặc dù nó vọng đến từ rất xa, dù chỉ là những tiếng “lao xao” nhưng bằng tấm lòng gần dân, thương dân, Nguyễn Trãi đã lắng nghe và cảm nhận bằng cả tâm hồn mình, thổi sức sống vào những con chữ tưởng như vô tri. Nếu hẳn là âm thanh “ồn ào trên bến đỗ” của Huy Cận trong bài “Đoàn thuyền đánh cá” thì ai cũng nghe thấy, cũng cảm nhận được. Thế nhưng với Nguyễn Trãi, dù chỉ là vang âm “lao xao” của cuộc sống, ông đã có thể nắm bắt và đưa vào thơ thành công. Có lẽ đó cũng chính là những điểm làm nên nét hấp dẫn riêng của hồn thơ Ức Trai tinh tế, nhạy cảm mà cũng rất mãnh liệt. “Tiếng nói” sâu lắng nhất, thấm thía nhất trong bài Cảnh ngày hè có lẽ là tiếng lòng ưu thời mẫn thế, yêu nước thương dân hết mực của Nguyễn Trãi Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng Dân giàu đủ, khắp đòi phương Hai câu kết nêu lên một ước mơ, giãi bày một khát vọng mạnh mẽ của tác giả. Ông ước nhưng không ước cho mình, cho cuộc sống vật chất của bản thân mà dành tất cả sự quan tâm mong mỏi ấy cho nhân dân – những con người “đòn gánh xương chín dạn hai vai”. Thương dân, thấu hiểu những khó khăn vất vả trong đời sống người dân lao động nên nhà thơ chỉ mong có cây đàn của vua Ngu Thuấn để gảy khúc Nam Phong mừng cho đời sống ấm no, hạnh phúc của toàn dân. Ở đây, tác giả đã sử dụng điển tích điển cố nhưng không hề khô khan, gò ép, trái lại rất tự nhiên, diễn tả chân thực khát khao cháy bỏng là nhân dân có cuộc sống bình yên, no đủ, như đương thời vua Lê Thánh Tông cũng mong ước Nhà Nam nhà Bắc đều no mặt Lừng lẫy cùng ca khúc thái bình Đặt trong bối cảnh Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn do đắc chí, khát vọng ấy “Dẽ có...” lẽ ra nên có còn phảng phất nét buồn, tâm sự ưu thời mẫn thế vì chí lớn chưa thỏa sức thực hiện. Nhưng dẫu sao, câu thơ vẫn ánh lên tấm lòng “sáng tựa sao Khuê” của một con người suốt đời lo cho dân cho nước. Chỉ bằng một bài thơ ngắn, ta đã nhận ra tài năng nghệ thuật Nguyễn Trãi. Với thể thơ thất ngôn xen lục ngôn đầy sáng tạo, hệ thống hình ảnh giàu chất gợi hình, gợi cảm và ngôn ngữ thơ Nôm vừa tinh tế, hàm súc lại rất đỗi gần gũi, thân thuộc, bài thơ là một “công trình nghệ thuật” đầy ấn tượng, mang đậm nét tư tưởng Nguyễn Trãi tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và nỗi niềm yêu nước thương dân. Đó là những “tiếng nói” đầy ý nghĩa vang lên từ tâm hồn Ức Trai trước cuộc đời muôn hình muôn sắc. Tiếng nói ấy vừa đặc trưng lại vừa độc đáo, mới mẻ. Thường trong văn học trung đại, khi miêu tả thiên nhiên, các tác giả nghĩ ngay đến xuân với “Cỏ non xanh tận chân trời” Nguyễn Du hay “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” chứ ít ai nhắc tới mùa hè. Vượt ra khỏi cái khuôn mẫu xáo mòn, cái “xương xẩu cứng khô” của tư tưởng phi ngã, Nguyễn Trãi đã tạo nên không không gian nghệ thuật riêng, trong đó âm vang cuộc sống hiện lên thật rõ nét qua từng con chữ, thực sự “đụng chạm tới cuộc sống” bằng chính những giác quan nhạy bén, bằng tâm hồn rộng mở và bằng cả ngòi bút tài hoa, xứng đáng là “người làm nên lòng tin cho ngôn ngữ dân tộc” Lê Trí Viễn. “Thơ ca là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp” Sóng Hồng. Đọc thơ cũng chính là đến với thời đại của nhà thơ, đồng thời đến với thế giới nội tâm của người nghệ sĩ với bao xúc cảm lạ lùng. Nhận định của Nguyễn Đình Thi mang đến chiêm nghiệm sâu sắc về thơ ca cũng như bài học cho người sáng tác và người tiếp nhận. Thơ ca là tấm gương phản ánh hiện thực đời sống cũng như hiện thực tâm hồn, do đó người làm thơ cần phải xúc cảm thực sự trước cuộc đời, con người mới có thể mang những cảm xúc đó vào thơ, như Nguyễn Du thương cô Kiều tài hoa bạc mệnh và làm nên kiệt tác “Truyện Kiều”, như Xuân Diệu với lòng yêu đời và khát khao giao cảm mãnh liệt thổi hồn cho những “Vội vàng”; “Thơ duyên”... Cảm xúc sẽ dẫn dắt nhà thơ tới miền đất của cái đẹp, của chân – thiện – mĩ. Tuy nhiên chỉ cảm xúc thôi thì chưa đủ, cảm xúc mãnh liệt cũng cần một tài năng nghệ thuật đích thực để giúp truyền tải những vang âm đó vào trang thơ, làm nên những tác phẩm thực sự mà như Viên Mai đã nhận xét “Tài gia tình chi phát, tài thịnh tình đắc thâm” Cái tài do tình sinh ra, tài cao ắt tình sâu. Đối với người đọc, trong quá trình tiếp nhận văn học cần trân trọng công sức của nhà văn, nhà thơ, đọc để không chỉ thấy cái hay của câu chữ mà còn thực sự đồng điệu, tri âm với tâm hồn, với tiếng nói sâu lắng mà nhà thơ gửi gắm vào tác phẩm, bởi “Thơ là một điệu hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu” Tố Hữu. Nếu ngày mai em không làm thơ nữa Cuộc sống trở về bình yên Ngày nối nhau trên đường phố êm đềm Không nỗi khổ, không niềm vui kinh ngạc Xuân Quỳnh Nếu không còn những vấn thơ – những tiếng nói tâm hồn đầy xúc cảm ấy chắc chắn cuộc sống sẽ thiếu đi hẳn một phần niềm vui, vài phần nỗi buồn và rất nhiều phần lãng mạn. Vậy nên hãy cứ làm thơ, yêu thơ – cũng là yêu chính cuộc sống tươi đẹp này.
Im lặng của đêm tôi đã lắng nghe Im lặng của ngày tôi đã lắng nghe Im lặng của đời tôi đã lắng nghe Tôi đã lắng nghe trái tim lạc loài bao đêm đã qua im lặng của người tôi đã lắng nghe im lặng của tôi Im lặng giòng sông tôi đã lắng nghe Im lặng ngọn đồi tôi đã lắng nghe Im lặng thở dài tôi đã lắng nghe Tôi đã lắng nghe im lặng thở dài sau cơn bão qua im lặng mặt người nghe bao nỗi đau trên một bàn tay Tôi đang lắng nghe im lặng cuộc tình Sau một cuộc tình tôi đang lắng nghe Khi hoa héo khô im lặng nụ tàn Tôi đang lắng nghe tôi đang lắng nghe Tôi đang lắng nghe im lặng đời mình
nlxh trình bày ý kiến về bvmt ngắn mở bài với thân bài thôi ạh Xem chi tiết thời gian bị giam ở nhà lao Thừa Phủ, Tố Hữu có bài thơ khác là “Tâm tư trong tù tháng 4/ 1939. Bài thơ mở đầu như sau“Cô đơn thay là cảnh thân tùTai mở rộng và lòng sôi rạo rựcTôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nứcỞ ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu”Con hãy chỉ ra điểm giống nhau về cảm hứng nghệ thuật của đoạn thơ và bài thơ “Khi con tu hú”Đọc tiếp Xem chi tiết “Cô đơn thay là cảnh thân tù Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu ”a. Những câu thơ trên khiến em nghĩ đến bài thơ nào khác của Tố Hữu có trong chương trình ngữ văn 8? Hãy chép chính xác khổ cuối bài thơ đó ?Đọc tiếp Xem chi tiết Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầuAnh hát em nghe khúc hát đồng quê Cho lắng lại vui buồn muôn thuở Cho mẹ thương con, cho chồng thương vợ, Người không thương nhau có rất ít ở trên đời!Anh hát em nghe về những con người Sống với đất chết lẫn vào cùng đấtChỉ để lại nụ cười chân thật, Như hoa đồng cỏ nội nở rồi quên. Những câu hát nhắc anh, những câu hát nhắc em Ăn hạt gạo không quên người cày cuốc... Bao vất vả gian lao đã có gì được hưởng, Ai quên ai khuya sớm nhọc nhằn? ...Đọc tiếp Xem chi tiết Hãy phát biểu đọc luận điểm mà em vừa chuẩn bị viết trước tổ trước lớp; sau đó, lắng nghe sự góp ý của các bạn và của thầy, cô giáo để rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho bản em với. Em cảm ơn trước ạ Xem chi tiết Em hãy viết mở bài và kết bài về việc trò chơi điện tửGIúp mình với Xem chi tiết NLXH về mục tiêu học tập của học sinh?Giúp em với ạ! Xem chi tiết Hãy phát biểu đọc luận điểm mà em vừa chuẩn bị viết trước tổ trước lớp; sau đó, lắng nghe sự góp ý của các bạn và của thầy, cô giáo để rút ra những kinh nghiệm bổ ích cho bản thân. Xem chi tiết
Đề bài Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tâm tư trong tù của Tố Hữu Cô đơn thay là cảnh thân tù!... Nghe lạc ngựa rùng chăn bên giếng lạnh, Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về… Bài làm Từ ấy là tập thơ đầu tay, cũng là thành công đầu tiên của Tố Hữu trên con đường nghệ thuật. Tập thơ gồm có 71 bài chia làm 3 phần Máu lửa Xiềng xích Giải phóng. Từ ấy nói lên 10 hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử sôi động đã diễn ra nhiều biến cố to lớn, làm rung chuyển và đổi thay sâu sắc xã hội Việt Nam. Từ ấy là cái mốc đánh dấu một sự biến đổi quan trọng của thơ ca Việt Nam. Tâm tư trong tù là bài thơ mở đầu cho phần thơ tù, phần Xiềng xích trong tập thơ này. Một đoạn trong bài Tâm tư trong tù Tố Hữu có viết Cô đơn thay là cảnh thân tù! Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu! Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về… Trước khi tìm hiểu đoạn thơ, chúng ta cần quan tâm đến tình hình lịch sử năm 1939. Đầu năm này, tình hình thế giới trở nên căng thẳng, cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai sắp sửa bùng nổ, thực dân Pháp ra sức ngăn cấm những hành động cách mạng, khủng bố những chiến sĩ tham gia phong trào, chĩa mũi nhọn đàn áp Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối tháng 4 1939. Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt ở Huế trong một đợt khủng bố Đảng Cộng sản. Tâm tư trong tù được viết ngay trong những ngày nhà thơ bị tù hãm một cách vô cớ tại Xà lim số 1, lao Thừa Thiên 2941939. Trích đoạn thơ trên đây bày tỏ nỗi cô đơn, lòng yêu đời, niềm khát khao tự do mãnh liệt của nhân vật trữ tình trong những chuỗi ngày đối diện với “bốn tường vôi khắc khổ". Trước hết là nỗi cô đơn, buồn bã của nhân vật trữ tình Cô đơn thay là cảnh thân tù Đây là một tiếng kêu xác nhận một sự thật oan ức, cay đắng chứ không phải là tiếng rên của một kẻ hèn hạ, yếu đuối. Nhà thơ cũng đã từng tâm sự Khóc là nhục. Rên, hèn. Van, yếu đuối. Tiếng kêu ấy còn ẩn chứa cái tâm trạng tiếc ngày, giờ của một chàng trai 19 tuổi, say mê lý tưởng rất gần gũi với tâm trạng của bậc đại nhân, đại trí, đại dũng Hồ Chí Minh Xót mình giam hãm trong ngục tù Chưa được xông ra giữa trận tiền Trời xanh cố ý hãm anh hùng Cùm xích tiêu ma tám tháng ròng Tấc bóng nghìn vàng đau xót thực, Bao giờ thoát khỏi chốn lao lung. Nhật kí trong tù Mặt khác, chúng ta còn bắt gặp tâm hồn của nhân vật trữ tình luôn khát khao tự do, gắn bó với cuộc đời. Thái độ này rất tích cực Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu! Anh lắng nghe những âm thanh của cuộc sống bên ngoài “ tường vôi khắc khổ” bằng thính giác và bằng cả tâm hồn sôi rạo rực”. Ở đây, “ tiếng đời lăn náo nức”là một sự sáng tạo trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Hai chữ “náo nức” vừa miêu tả những âm thanh bình dị của cuộc đời thường, vừa miêu tả được những âm thanh xôn xao mãnh liệt, tha thiết trong cõi lòng nhà thơ. Câu thơ “Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!” như một tiếng reo vui, reo vui trong nuối tiếc, ngẩn ngơ, bồn chồn tê tái bởi lẽ “ ngoài kia vui sướng” hoàn toàn đối lập với “ cảnh thân tù” cô đơn, lạnh lẽo, âm u, tăm tối. Ở bốn câu thơ còn lại của trích đoạn, bằng trí tưởng tượng phong phú, nhân vật trữ tình đã vẽ một bức tranh sống động ở bên ngoài xà lim dựa trên những âm thanh của nó tiếng “chim reo”, tiếng “gió mạnh”, tiếng “dơi chiều đập cánh” lúc hoàng hôn, tiếng “ ngựa rùng chân”, “ guốc đi về”. Đặc biệt là hai câu thơ Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi đã để lại trong lòng độc giả yêu thơ, say thơ suốt mấy chục năm qua sức rung, sức gợi sâu xa. “Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh”, thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm và trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ từ âm thanh được nghe lạc ngựa, người chiến sĩ cách mạng hình dung cảnh con ngựa bên giếng, cảm nhận được cái lạnh của buổi hoàng hôn qua động tác “rùng chân” của nó, qua cả cái lạnh đã thấm sâu vào làn nước ở đáy sâu. Như vậy, sự cảm nhận của thi nhân không chỉ bằng thính giác, xúc giác mà còn bằng linh giác! Còn câu thơ “Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về” dường như không có một chút dùng công nghệ gì cả nhưng lại có sức lay động lòng người lớn lao. Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận xét “Một tiếng guốc dưới đường xa nhà thơ ghi vội. Đã bao nhiêu năm rồi còn vang mãi trong thơ”. Thật vậy, câu thơ gợi lên không khí vắng vẻ của đường phố cạnh nhà lao Thừa Phủ Huế. Tiếng guốc đi qua, xa dần nhưng âm thanh cứ vang vọng mãi trong lòng người. Tiếng guốc chính là biểu tượng của cuộc đời bình dị, lần đầu tiên được vọng vào thơ. Tiếng guốc gợi thương những bước chân của tuổi học trò đang thơ ngây, hồn nhiên cắp sách đến trường. Tiếng guốc gợi nhớ một thời tuổi trẻ, mới đây thôi, hãy còn đang ôm ấp những ước mơ, hoài bão đẹp muốn mang hết sức trẻ của mình cống hiến cho Tổ Quốc Việt Nam trăm quý ngàn yêu. Vả lại, cái “nghiêng tai kỳ diệu” ấy còn giúp chúng ta thấu hiểu được nỗi đau nhói tâm can của một con người bị cách ly một cách vô cớ chỉ vì phạm “tội yêu nước”, đi làm cách mạng giải phóng dân tộc. Nhìn chung, đây là một đoạn thơ hay nhất trong bài Tâm tư trong tù của Tố Hữu. Lời thơ cô đọng, hàm xúc, trong sáng, truyền cảm, lôi cuốn. Nhịp thơ tha thiết, sôi nổi. Hình ảnh của cái tôi của nhân vật trữ tình hiện lên vừa lãng mạn, trẻ trung, non nớt, mới mẻ, mà nhạy cảm tinh tế, vừa đáng yêu, vừa hiên ngang, bất khuất. Tóm lại, bài Tám tư trong tù là bài thơ đặc sắc. Dù ra đời trong hoàn cảnh khắc nghiệt bài thơ được chép vào mảnh giấy mỏng cuốn thuốc là, găm vào lá gồi, đưa ra ngoài cùng với nhiều bài thơ tù khác rồi được các đồng chí đăng báo, kí tên “một người tù” những bài thơ đã sớm biểu hiện được một trong ba phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, đó là một hồn thơ cách mạng, sôi nổi, mãnh liệt, có một sức mạnh làm lay động lòng người. Vì lẽ đó, đã hơn sáu mươi năm qua rồi mà bài thơ Tâm tư trong tù cũng như tập thơ Từ ấy vẫn còn trụ lại được với một sự tinh lọc của độc giả, với thử thách khắc nghiệt của thời gian.
Bình giảng đoạn thơ sau trong bài Tâm tư trong tù của Tố Hữu Cô đơn thay là cảnh thân tù!… Nghe lạc ngựa rùng chăn bên giếng lạnh, Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về… Gợi ý A. DÀN BÀI 1. Mở bài Tâm tư trong tù là bài thơ mở đầu cho phần thơ tù, phần Xiềng xích trong tập thơ Từ ấy của Tố Hữu. 2. Thân bài a. Câu 9 đến câu 12 – Nỗi cô đơn, buồn bã của nhân vật trữ tình khi bị giặc Pháp tù hãm Cô đơn thay là cảnh thân tù! – Tâm hồn của nhân vật trữ tình luôn khát khao tự do, gắn bó với cuộc đời. Thái độ này rất tích cực Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu! b. Câu 13 đến câu 16 Bằng trí tưởng tượng phong phú, nhân vật trữ tình đã vẽ được một bức tranh sống động ở bên ngoài xà lim dựa trên những âm thanh của nó + tiếng “ chim reo”, + tiếng “gió mạnh”, + tiếng “dơi chiều đập cánh” lúc hoàng hôn, + tiếng “lạc ngựa rùng chân”, + “tiếng guốc đi về…” Chú ý bình giảng hai câu thơ Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về c. Đánh giả Đây là một đoạn thơ hay nhất trong bài Tâm tư trong tù của Tố Hữu. – Lời thơ cô đọng, hàm xúc, trong sáng, truyền cảm, lôi cuốn. – Nhịp thơ tha thiết, sôi nổi. – Hình ảnh của cái tôi của nhân vật trữ tình hiện lên vừa lãng mạn, trẻ trung, non nớt, mới mẻ, nhạy cảm, tinh tế, vừa đáng yêu, hiên ngang, bất khuất. 3. Kết bài Tâm tư trong tù là bài thơ ra đời trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhưng bài thơ đã sớm biểu hiện được một trong ba phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, đó là một hồn thơ cách mạng, sôi nổi, mãnh liệt, có một sức mạnh làm lay động lòng người. B. BÀI LÀM Từ ấy là tập thơ đầu tay, cũng là thành công đầu tiên của Tố Hữu trên con đường nghệ thuật. Tập thơ gồm có 71 bài chia làm 3 phần Máu lửa – Xiềng xích – Giải phóng. Từ ấy nói lên 10 hoạt động sôi nổi, say mê từ giác ngộ qua thử thách đến trưởng thành của người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử sôi động đã diễn ra nhiều biến cố to lớn, làm rung chuyển và đổi thay sâu sắc xã hội Việt Nam. Từ ấy là cái mốc đánh dấu một sự biến đổi quan trọng của thơ ca Việt Nam. Tâm tư trong tù là bài thơ mở đầu cho phần thơ tù, phần Xiềng xích trong tập thơ này. Một đoạn trong bài Tâm tư trong tù Tố Hữu có viế Cô đơn thay là cảnh thân tù! Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu! Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về… Trước khi tìm hiểu đoạn thơ, chúng ta cần quan tâm đến tình hình lịch sử năm 1939. Đầu năm này, tình hình thế giới trở nên căng thẳng, cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai sắp sửa bùng nổ, thực dân Pháp ra sức ngăn cấm những hành động cách mạng, khủng bố những chiến sĩ tham gia phong trào, chĩa mũi nhọn đàn áp Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối tháng 4- 1939. Tố Hữu bị thực dân Pháp bắt ở Huế trong một đợt khủng bố Đảng Cộng sản. Tâm tư trong tù được viết ngay trong những ngày nhà thơ bị tù hãm một cách vô cớ tại Xà lim số 1, lao Thừa Thiên 29-4-1939. Trích đoạn thơ trên đây bày tỏ nỗi cô đơn, lòng yêu đời, niềm khát khao tự do mãnh liệt của nhân vật trữ tình trong những chuỗi ngày đối diện với “bốn tường vôi khắc khổ". Trước hết là nỗi cô đơn, buồn bã của nhân vật trữ tình Cô đơn thay là cảnh thân tù Đây là một tiếng kêu xác nhận một sự thật oan ức, cay đắng chứ không phải là tiếng rên của một kẻ hèn hạ, yếu đuối. Nhà thơ cũng đã từng tâm sự Khóc là nhục. Rên, hèn. Van, yếu đuối. Tiếng kêu ấy còn ẩn chứa cái tâm trạng tiếc ngày, giờ của một chàng trai 19 tuổi, say mê lí tưởng rất gần gũi với tâm trạng của bậc đại nhân, đại trí, đại dũng Hồ Chí Minh Xót mình giam hãm trong ngục tù Chưa được xông ra giữa trận tiền Trời xanh cố ý hãm anh hùng Cùm xích tiêu ma tám tháng ròng Tấc bóng nhìn vàng đau xót thực, Bao giời thoát khỏi chốn lao lung. Nhật kí trong tù Mặt khác, chúng ta còn bắt gặp tâm hồn của nhân vật trữ tình luôn khát khao tự do, gắn bó với cuộc đời. Thái độ này rất tích cực Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức Ớ ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu! Anh lắng nghe những âm thanh của cuộc sống bên ngoài “ tường vôi khắc khổ” bằng thính giác và bằng cả tâm hồn usôi rạo rực”. Ở đây, “ tiếng đời lăn náo nức”là một sự sáng tạo trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Hai chữ “náo nức” vừa miêu tả những âm thanh bình dị của cuộc đời thường, vừa miêu tả được những âm thanh xôn xao mãnh liệt, tha thiết trong cõi lòng nhà thơ. Câu thơ “Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!” như một tiếng reo vui, reo vui trong nuối tiếc, ngẩn ngơ, bồn chồn tê tái bởi lẽ “ ngoài kia vui sướng” hoàn toàn đối lập với “ cảnh thân tù” cô đơn, lạnh lẽo, âm u, tăm tối. Ở bốn câu thơ còn lại của trích đoạn, bằng trí tưởng tượng phong phú, nhân vật trữ tình đã vẽ một bức tranh sống động ở bên ngoài xà lim dựa trên những âm thanh của nó tiếng “chim reo”, tiếng “gió mạnh”, tiếng “dơi chiều đập cánh” lúc hoàng hôn, tiếng “ ngựa rùng chân”, “ guốc đi về”. Đặc biệt là hai câu thơ Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi đã để lại trong lòng độc giả yêu thơ, say thơ suốt mấy chục năm qua sức rung, sức gợi sâu xa. “Nghe lạc ngựa rùng chăn bên giếng lạnh”, thể hiện sự tinh tế, nhạy cảm và trí tưởng tượng phong phú của nhà thơ từ âm thanh được nghe lạc ngựa, người chiến sĩ cách mạng hình dung cảnh con ngựa bên giếng, cảm nhận được cái lạnh của buổi hoàng hôn qua động tác “rùng chân” của nó, qua cả cái lạnh đã thấm sâu vào làn nước ở đáy sâu. Như vậy, sự cảm nhận của thi nhân không chỉ bằng thính giác, xúc giác mà còn bằng linh giác! Còn câu thơ “ Dưới đường xa nghe tiếng guốc đi về” dường như không có một chút dùng công nghệ gì cả nhưng lại có sức lay động lòng người lớn lao. Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận xét “Một tiếng guốc dưới đường xa nhà thơ ghi vội. Đã bao nhiêu năm rồi còn vang mãi trong thơ”. Thật vậy, câu thơ gợi lên không khí vắng vẻ của đường phố cạnh nhà lao Thừa Phủ – Huế. Tiếng guốc đi qua, xa dần nhưng âm thanh cứ vang vọng mãi trong lòng người. Tiếng guốc chính là biểu tượng của cuộc đời bình dị, lần đầu tiên được vọng vào thơ. Tiếng guốc gợi thương những bước chân của tuổi học trò đang thơ ngây, hồn nhiên cắp sách đến trường. Tiếng guốc gợi nhớ một thời tuổi trẻ, mới đây thôi, hãy còn đang ôm ấp những ước mơ, hoài bão đẹp muốn mang hết sức trẻ của mình cống hiến cho Tổ Quốc Việt Nam trăm quý ngàn yêu. Vả lại, cái “nghiêng tai kì diệu” ấy còn giúp chúng ta thấu hiểu được nỗi đau nhói tâm can của một con người bị cách li một cách vô cớ chỉ vì phạm “tội yêu nước”, đi làm cách mạng giải phóng dân tộc. Nhìn chung, đây là một đoạn thơ hay nhất trong bài Tâm tư trong tù của Tố Hữu. Lời thơ cô đọng, hàm xúc, trong sáng, truyền cảm, lôi cuốn. Nhịp thơ tha thiết, sôi nổi. Hình ảnh của cái tôi của nhân vật trữ tình hiện lên vừa lãng mạn, trẻ trung, non nớt, mới mẻ, mà nhạy cảm tinh tế, vừa đáng yêu, vừa hiên ngang, bất khuất. Tóm lại, bài Tám tư trong tù là bài thơ đặc sắc. Dù ra đời trong hoàn cảnh khắc nghiệt – bài thơ được chép vào mảnh giấy mỏng cuốn thuốc là, găm vào lá gồi, đưa ra ngoài cùng với nhiều bài thơ tù khác rồi được các đồng chí đăng báo, kí tên “một người tù” – nhưng bài thơ đã sớm biểu hiện được một trong ba phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, đó là một hồn thơ cách mạng, sôi nổi, mãnh liệt, có một sức mạnh làm lay động lòng người. Vì lẽ đó, đã hơn sáu mươi năm qua rồi mà bài thơ Tâm tư trong tù cũng như tập thơ Từ ấy vẫn còn trụ lại được với một sự tinh lọc của độc giả, với thử thách khắc nghiệt của thời gian. Chủ đề a phubình giảngCảm nhậnchiến tranhcon đườngcon nguacon ngườicuộc sốnghành độngho chi minhHoài Thanhhoang honlí tưởngNhật kí trong tùthanh niênthời giantố hữuTừ ấyTuổi trẻtưởng tượngước mơvan hoc
tôi lắng nghe tiếng đời lăn náo nức