Hội thảo quốc tế "Khoa học, Đạo đức học và Phát triển con người". TT. 12/09/2022 13:25. Diễn ra từ ngày 13 đến 16/9 tại Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), TP Quy Nhơn, Hội thảo là nơi các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách, và đại diện các Đạo đức điện ảnh, (điện báo từ telos Hy Lạp , Hồi giáo, logo, khoa học,), lý thuyết về đạo đức xuất phát từ nghĩa vụ hay nghĩa vụ đạo đức từ những gì tốt đẹp hoặc mong muốn là kết thúc.Còn được gọi là đạo đức hệ quả luận, nó là trái ngược với đạo đức deontological (từ tiếng Hy Lạp Deon Lão Tử là một nhân vật quan trọng trong Triết học Trung Quốc. Ông được cho là sống vào thế kỷ 6 TCN và là người viết Đạo Đức Kinh - cuốn sách của Đạo giáo có ảnh hưởng lớn đến Trung Quốc và nhiều nước khác. C8: nguyên nhân tạo nên sự suy thoái hay tiến bộ của nền đạo đức xã hội theo quan điểm của triết học là sự đấu tranh giữa A. Pháp luật và đạo đức B. Phong tục và tập quán C. Cái thiện và cái ác D. Cái được và cái mất phương pháp luận của nghiên cứu đạo đức. - Triết học Mác Lê Nin đã chỉ rõ bản chất xã hội - lịch sử của các. tư tưởng đạo đức, cho phép chúng ta dựa trên cơ sở khoa học. chặt chẽ rút ra những tư tưởng đạo đức trong xã hội loài người. - Liên quan chặt chẽ ND: Bài mình dịch dưới đây sẽ khám phá giấc mơ dưới góc nhìn của Đạo đức học, hay Luân lý học - một môn trong triết học nghiên cứu về bản chất, đặc trưng và các chức năng của đạo đức trong đời sống xã hội. Đây là phần tiếp theo trong series "Triết học về giấc mơ". 969I7L. Con người không chỉ sống để thỏa mãn các nhu cầu bản năng nhưng còn theo đuổi các giá trị mà chúng ta tin rằng sẽ giúp cuộc sống trở nên hạnh phúc hơn. Chúng ta đánh giá mọi hành vi và chọn lựa của mình giữa trên các giá trị này. Tốn tại với các yếu tố di truyền hay môi sinh thì chúng ta thật sự tự do chọn lựa các giá trị này không? Các giá trị này đến từ đâu và dựa trên những tiêu chuẩn phán đoán nào? Các tiêu chuẩn ấy là tương đối hay tuyệt đối? Chủ quan hay khách quan? Có phù hợp với viễn tượng nhân bản không? Cuối cùng, tại sao chúng ta “nên” sống đạo đức? Đạo đức học là môn nghiên cứu các chủ đề rộng lớn và quan trọng này. Từ “ethics” đạo đức học, luân lý học bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “ethos”, có nghĩa là “phong tục” số ít và ở số nhiều “ethe” mang nghĩa “tính cách”. Từ “morality” cũng có nghĩa tương đương như trong tiếng Hy lạp, bắt nguồn từ tiếng La tinh “mos” và mores ở số nhiều. Tuy nhiên, từ “ethics” thì thông dụng hơn trong phạm vi triết học, còn “morality” thì được dùng nhiều hơn khi nói về thần học luân lý. Từ các nghĩa gốc này cho thấy đạo đức học liên quan đến các “hành vi” phong tục chúng ta phải làm lẫn “tính cách” loại người chúng ta muốn trở thành. Hai chủ đề này liên quan mật thiết với nhau, vì tính cách của chúng ta được hình thành chủ yếu từ cách thức chúng ta quen hành động. Các nghĩa gốc này cũng giúp chúng ta hiểu tại sao chúng ta gọi đạo đức học là học về cách phải sống đời mình thế nào Đạo đức học là môn học về cách cư xử và tính cách đúng đắn của con người. Triết học không phải là môn học duy nhất xem xét cách cư xử và tính cách đúng đắn. Thần học cũng bàn về các vấn đề cơ bản này. Tuy nhiên, câu trả lời của thần học luân lý thì dựa trên các giả thuyết được chấp nhận bởi đức tin tôn giáo. Triết học đạo đức thì cố gắng cung cấp các câu trả lời hoàn toàn dựa trên lý trí và kinh nghiệm. Trong khi cách giải thích về giáo lý tôn giáo có thể khác biệt nhưng nền tảng căn bản của thần học luân lý thì không thể bị tranh cãi. Trái lại, trong triết học đạo đức, mọi câu hỏi đều có thể được đem ra bàn luận—ngay cả câu liệu có một đạo đức học đúng hay không? Tuy nhiên, có một số nhà tư tưởng vừa là triết gia, vừa là thần học gia nhận thấy có sự hòa hợp giữa thần học luân lý và triết học đạo đức, cho dù các điểm xuất phát của hai môn học này thì khác nhau. Nói chung, có ba vấn để nền tảng trong đạo đức học. đó là 1 mối tương quan giữa đạo đức học và bản tính con người, 2 khai triển các giá trị và tiêu chuẩn để phán đoán các hành vi đạo đức, và 3 và lý giải cho mục đích của đời sống đạo đức. Đạo Đức học và Bản tính Con người. Có nhiều cách trả lởi cho câu hỏi “chúng ta nên sống đời mình thế nào để đạt hạnh phúc?” nhưng có lẽ cách thông thường nhất là chúng ta nên sống thế nào để chúng ta thể hiện bản tính con người. Như thế, trước tiên chúng ta phải xác định một cách tổng quát về bản tính con người và rồi cắt nghĩa làm thế nào chúng ta thể hiện được bản tính ấy. Nếu chúng ta chủ trương rằng bản tính con người là yêu thương thì đạo đức sẽ nhắm tới cách dùng lý trí để gia tăng hay củng cố sự yêu thương nơi con người. Nếu bản tính con người là tìm kiếm thỏa mãn hay hạnh phúc cho mọi người, thì tiêu chuẩn đạo đức phù hợp với mục đích ấy sẽ là vị lợi. Nếu bản tính chúng ta là thể hiện các khuynh hướng tự nhiên của con người, thì đạo đức học sẽ là việc khai thác cách áp dụng quy luật tự nhiên. Nếu con người là một thực thể mang tính xã hội, xem tha nhân như chính mình, thì các tiêu chuẩn đối xử công bằng và tôn trọng tự do của tha nhân sẽ là bổn phận thiết yếu của mọi thành viên trong xã hội. Mặt khác, nếu chúng ta cho rằng bản tính con người không hoàn toàn là tốt, thì đạo đức là tìm cách thống trị, sửa sai các khuynh hướng tự nhiên của con người. Ví dụ, người ta có thể coi con người cơ bản là ích kỷ thì đạo đức học cần giúp khắc phục khuynh hướng vị kỷ hầu để đem lại lợi ích cho người khác. Khi triết gia phủ nhận về một bản tính chung thì giá trị đạo đức là thể hiện sự tự do tự sáng tạo qua các chọn lựa độc đáo của mình. Khó khăn ở đây là làm sao dung hòa sự mâu thuẫn giữa loại tự do tự tạo của mình với tự do của tha nhân. Cũng có những nhà nghiên cứu đạo đức học cho rằng yếu tố phái tính chi phối bản tính con người, do đó các nguyên tắc đạo đức tốt cho nam giới không thể giúp phụ nữ phát triển toàn diện và thể hiện bản tính chân thực của họ. Như thế thì “bản tính con người” vẫn còn là một vấn nạn lớn cho đạo đức học. Đó là khuynh hướng tự nhiên hay bản năng của con người, hay là những tập tục, thói quen xuất phát từ truyền thống tôn giáo, văn hóa? Trong khi chưa có sự thống nhất về định nghĩa của “bản tính con người” thì khó mà đạt đến một quan điểm chung về đạo đức học. Các tiêu chuẩn đánh giá đạo đức Đạo đức học nghiên cứu về cách chúng ta phán đoán một hành vi nhân bản là tốt hay xấu, đúng hay sai, căn cứ trên các tiêu chuẩn đạo đức được giả định. Từ thời Cổ Đại Hy Lạp, con người đã nhận biết có những qui luật chi phối lương tâm con người cao cả hơn là qui luật xã hội hay vua chúa. Trong vở kịch “Antigone” của Sophocles, Antigone đã áp dụng qui luật này để biện minh cho hành vi chôn cất xác người anh ruột, cho dù đó là điều bị vua Creon cấm vì người anh đó đã nổi loạn chống lại chính quyền thành Thebes. Những qui luật đạo đức nền tảng đó qua thời gian đã kết hợp thành các tiêu chuẩn đạo đức. Trong lịch sử có một số tiêu chuẩn đạo đức được khai triển và chấp nhận rộng rãi như đạo đức học vị kỷ, đạo đức học vị lợi của Bentham & Mill, đạo đức học luật tự nhiên, đạo đức học bổn phận của Kant, đạo đức học nhân đức của Aristote. Cả bốn tiêu chuẩn đạo đức đầu tiên đều nhắm vào hành vi làm thế nào chúng ta có thể quyết định hành vi hay chọn lựa nào thích hợp nhất cho hoàn cảnh của mình? Tuy nhiên, đạo đức học nhân đức nhắm vào sự thiện hảo của con người cái gì tốt nhất cho con người như là một chủ thể luân lý? Làm thế nào để giúp con người thể hiện sự hoàn hảo luân lý của mình? Sự hiểu biết và ý định của chủ thể rất cần thiết trong công việc phán đoán đạo đức. Cả hai đạo đức học vị lợi và vị kỷ đều phán đoán dựa trên các hậu quả mà hành động hay tính cách tạo ra consequentialism. Ví dụ, chúng ta khen ngợi các hành động bảo vệ môi trường vì chúng giúp thế hệ chúng ta và các thế hệ tương lai sống khỏe mạnh hơn và tốt đẹp hơn. Chúng ta kết án hành động giết người vì sự thiệt hại nó gây ra cho gia đình và bạn bè của nạn nhân, cho cộng đồng nơi tội ác diễn ra, và cho xã hội nói chung. Chúng ta khen ngợi tính quảng đại vì nó giúp một người biết quan tâm tới người khác và thăng tiến hạnh phúc của họ. Chúng ta kết án sự căm ghét vì nó làm hại người bị căm ghét, giảm nhân tính của người có lòng căm ghét, và làm xã hội xấu đi. Đạo đức học luật tự nhiên nhấn mạnh vào ý hướng của hành vi intentionalism. Giả sử tôi giúp cứu chữa một đứa bé em bé bị xe tông, chắc chắn hành động của tôi sẽ được xem là tốt. Nhưng hành động này là tốt cho dù tôi không cứu được mạng sống đứa bé, vì tôi đã có ý hướng giúp người bị nạn và tôi đã làm hết sức của mình. Giả sử đứa bé lớn lên rồi trở thành một tên giết người hàng loạt, thì hành động của tôi vẫn được xem là tốt về mặt đạo đức vì ý hướng tốt đứng sau hành động ấy. Ngược lại, nếu tôi là một dược sĩ và giả tạo các dữ liệu nghiên cứu để công ty có thể được phê chuẩn một thứ thuốc mới, và tôi được thưởng nhiều tiền. Dữ liệu sai lạc của tôi làm cho thuốc này được phê chuẩn, và nó lại trở thành một thứ thuốc an toàn và chữa trị bệnh nhân rất tốt. Nhưng hành vi giả tạo của tôi là sai đạo đức, cho dù kết quả sau cùng là tốt. Đạo đức học bổn phận lý luận rằng tiêu chuẩn dùng để đánh giá đạo đức của một hành động hay một tính cách hệ tại một số đặc tính hình thức nào đó mà hành động này có formalism. Theo một lý thuyết như thế, một hành động chỉ là tốt về đạo đức nếu nó có tính chất là “có thể trở thành phổ quát”—mọi người trong cùng hoàn cảnh sẽ thực hiện. Như thế, để xác định một hành động là đạo đức, chúng ta phải giả định là mọi người cùng thực hiện hành động ấy. Ví dụ, nếu một mình tôi trốn thuế thu nhập thì chính phủ sẽ vẫn hoạt động bình thường, nhưng hành động trốn thuế của tôi là sai trái vì chính phủ sẽ sụp đổ nếu không ai đóng thuế thu nhập. Cuối cùng đạo đức học nhân đức virtues ethics quan niệm rằng một con ngưởi với cá tính tốt thì hành động hay phán đoán của họ sẽ thể hiện tính cách tốt của tác nhân. Do đó, qua thói quen dùng lý trí để chọn cái “trung dung” giữa bất cập và thái quá trong cuộc sống, chúng ta tạo nên một “cá tính thứ nhì” hầu mang lại hạnh phúc và thiện hảo cho cuộc sống. Nhân đức là sức mạnh giúp con người thể hiện tiềm năng cá nhân và trở thành loại người mà chúng ta muốn trở thành. Con người có nhân đức thì sẽ biết biện phân giữa các mục đích công cụ và nội tại, cùng với sự chọn lựa tốt nhất trong mọi hoàn cảnh. Các nhân đức bổ túc cho nhau, và cuộc sống là một tiến trình phát triển nhân đức không ngừng. Tại sao phải sống đạo đức? Một ví dụ cụ thể. Giả sử tôi đồng ý với xã hội rằng ăn cắp là sai, lấy tài sản của người khác là nghịch với đời sống chính trực. Rồi giả sử một hôm tôi đi trên con đường phố vắng vào ban đêm và nhặt được một cái ví với 10 triệu đồng, cùng với tên và địa chỉ của người mất cái ví ấy. Đạo đức học đòi hỏi tôi phải trả lại số tiền ấy cho người bị mất. Nhưng tôi suy nghĩ rằng, nếu tôi bỏ chiếc ví này vào túi mình thì cũng chẳng ai biết, và lấy số tiền ấy để mua một máy vi tính mới thật hấp dẫn biết bao. Tôi tự hỏi, liệu mình phải làm hành vi đạo đức là trả lại cái ví tiền, hay làm hành động hấp dẫn là có một cái máy vi tính mới toanh. Trong bóng tối không ai biết gì cả, thì tại sao tôi phải hành động đạo đức? Có lý do chính đáng nào để tôi chọn sống chính trực thay vì sống thú vị hơn hay không? Đạo đức liên hệ đến mục đích cuối cùng mà lối sống phong tục, tập quán, hạnh kiểm, của một người, quốc gia, thời đại đã được tự ý công nhận. Nó bảo ta những việc phải làm, giúp ý chí nhận ra những quy luật cần thiết, và giúp con người biết sử dụng tự do theo cách đúng đắn để đạt tới cuộc sống hạnh phúc. Nó còn là cuộc sống hợp với nhân phẩm, được thúc bách bởi lý tưởng và hướng dẫn hành động về những mục đích tạo nguồn bình an cho con người. Ta biết những điều thiện ấy một cách khách quan, vì chúng là tốt cho cộng đoàn và cá nhân. Nhưng điều thiện là tốt vì lý do nào, có phải vì nó tốt hay ta muốn chọn nó? Một người làm việc tốt nhưng với mục đích xấu có phải là người tốt không? Hoặc một người có ý tốt nhưng lại làm điều không tốt do không biết, liệu người ấy có phải là người xấu không? Như thế, cách lập luận khách quan trên đây cần phải được bổ túc bởi sự tìm kiếm tri thức của chủ thể luân lý, tức là cách chủ thể hiểu và lý giải cho động lực và hảnh vi của mình. Nhiệm vụ của đạo đức học là tìm các hướng dẫn để giúp chúng ta đạt được mục tiêu mà chúng ta giả thiết thì câu hỏi “Tại sao nên sống đạo đức?” nằm ở ngoài lãnh vực của triết học đạo đức. Chúng ta sống đạo đức có thể là vì những lý do thực tiễn, không thuộc phạm vi triết học sợ bị luật pháp trừng phạt; tránh làm mất danh giá và bạn bè; muốn lương tâm khỏi bị cắn rứt, etc.. Cũng có những lý do mang tính thần học làm hài lòng Thượng đế, vì đời sống mai sau, sợ bị trừng phạt, muốn lập công đức. Mặc khác, câu hỏi “Tại sao phải sống đạo đức?” cũng là một câu hỏi đạo đức học vì “sống chính trực” đồng nghĩa với “có một đời sống tốt.” Nếu sống đạo đức tức là đang tìm kiếm một đời sống “tốt hơn” những ham muốn tầm thường và cố gắng thăng tiến cuộc sống tới cùng một sự thiện “cao thượng” hơn. thì đó cũng chính là mục đích của đạo đức học vậy. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ ĐẠO ĐỨC HỌC Siêu hình học nghiên cứu các vấn nạn về thực tại và hữu thể Thế nào là tồn tại? Cơ cấu của hữu thể là gì? Đâu là bản chất hay hình thức của hiện hữu? Tri thức luận tra cứu về nền tảng cho tri thức Dựa trên cơ sở gì để chúng ta đi đến kết luận là có tri thức hay hiểu biết về một điều gì đó? Kinh nghiệm? Lý trí? Ý niệm? Trực giác? Hay phối hợp các yếu tố này? Đạo đức học chú tâm vào các hành vi nhân vị. Nên sống như thế nào là tốt? Nên chọn lựa hay phán đoán như thế nào là đúng? Dùng tiêu chuẩn nào để xác định tốt/xấu hay đúng/sai? Đâu là những điều kiện để chúng ta khẳng định một phán đoán đạo đức, hay chọn một giá trị đạo đức? I. THỜI CỔ HY LẠP Tìm kiếm đức hạnh A. Thời Tiền-Socrates Đạo đức là vấn đề tìm sự quân bình giữa hai bản năng “tinh thần” spirit và “dục vọng” passion của con người. Cũng giống như một kỵ mã phải điều khiển hai con ngựa chiến, mỗi con muốn kéo cỗ xe ngựa đi theo hướng riêng của nó, thì con người tìm hạnh phúc qua cách điều khiển cả hai đi theo hướng mình muốn. Tinh thần cao quá độ có thể trở thành hiếu thắng làm mất trí khôn, nhưng dục vọng quá nhiều cũng sẽ làm tê liệt khả năng phán đoán của con người. - Phái Khoái lạc Epicurus Thước đo hành động của chúng ta là mức độ thỏa mãn mà hành động đó mang lại. Mỗi người cần tìm cuộc sống thoải mái với một sự thỏa mãn quân bình, cần loại trừ những nỗi lo lắng vô căn cứ như Thượng đế hay hình phạt đời sau. - Phái khắc kỷ Stoic Muốn tìm hạnh phúc chúng ta cần kiểm soát những yếu tố nằm trong khả năng của mình thái độ, phán đoán, niềm tin; và tránh tìm cách thay đổi những điều ngoài tầm tay của chúng ta đau khổ, cái chết. Hạnh phúc con người chính là sự “khôn ngoan”, là biết cách sống cho phù hợp với những qui luật mà lý trí khám phá ra về vũ trụ và thế giới bên ngoài. - Phái hoài nghi Không có những chuẩn mực đúng hay sai tuyệt đối. Giác quan có thể đánh lừa chúng ta. Hạnh phúc tiềm tàng trong khả năng sống với sự tương đối và trong phạm vi những gì có thể đạt được. Đau khổ hay bất hạnh là những người đi tìm chuẩn mực đạo đức tuyệt đối. - Phái ngụy biện Chối bỏ mọi đạo đức truyền thống, con người là thước đo cho chính mình; dùng tài hùng biện để thắng trong những cuộc tranh luận và thuyết phục người khác nhìn nhận “chân lý” của mình. Chân lý thuộc về kẻ thắng. Tương đối và hoài nghi là hai chủ thuyết nền tảng của trường phái ngụy biện. B. Socrates 469-399 BC Phản biện lại nhóm Ngụy Biện, Socrates chủ trương rằng tri thức phải gắng liền với khả năng nhận thức và thực hành điều thiện hảo hầu mang lại hạnh phúc cho chính mình và tha nhân. Khủng hoảng trong xã hội thảnh Athens đến từ sự bại chiến với Persia đặt lại vấn đề về cách sống, đưởng lối huấn luyện và giáo dục giới trẻ, tương quan giữa sự thiện và niềm tin tôn giáo hay thần thánh? Khủng hoảng là thời gian thích hợp để suy tư về nền tảng đạo đức, truy vấn về cách chúng ta suy tư, phán đoán và tìm kiếm chân lý để đạt đến một cuộc sống thiện hảo. Giữa hai quan điểm sự thiện là “bẩm sinh” và là kết quả của “tài tranh cãi” thì Socrates chọn con đường thứ ba. Đó là con người qua đối thoại, phản tỉnh, biện chứng pháp, tiến trình tiệm tiến của nổ lực tìm chân lý chung, sẽ giúp chúng ta gia tăng ý thức về những “giả định” chung về đức hạnh. Qua hội thoại “Euthyphro”, Socrates cho thấy rằng các giá trị đạo đức thì không lệ thuộc vào thần thánh, tôn giáo, cảm tính, thói quen xã hội, quyền lực hay ý thức hệ. Nhận thức về sự vô tri của mình là khởi điểm của khôn ngoan. Socrates bị kết án là gây hoang mang trong giới thanh niên thành Athens, bị bỏ tù và bị ép uống thuốc độc mà chết. Ông từ chối đào tẩu vì lẽ nhà nước đại diện cho đạo đức tập thể vốn là nền tảng của chế độ dân chủ và kết quả của việc suy tư thuần lý và tôn trọng lý trí một cách tối đa. Socrates chấp nhận hình phạt của nhà nước dân chủ thì cũng như bất kỳ người lính nào cũng phải sẵn sàng chấp nhận cái chết khi ra chiến trận. Nhưng cái chết của Socrates cũng là một sự mỉa mai cho nền dân chủ dựa trên tranh cãi và hùng biện vốn đang che lấp một ý thức hệ ngụy biện của nhóm lợi ích nào đó. Socrates xác tín rằng lý trí có thể phát triển một số những nguyên tắc đạo đức vốn tiềm tàng trong trong cách chúng ta phán đoán về niềm tin, hành động và chọn lựa. Nhận ra sự vô tri của chính mình là khởi đầu của hành trình khôn ngoan. Khả năng phản tỉnh là “con đường vàng” dẫn đến tri thức thực sự. Con người, hãy tự biết mình! Mortals, Know thyself! C. Plato 428-348 BC -Thực thể tối hậu tồn tại trong thế giới ý niệm. Plato dùng mô hình toán học để diễn đạt tri thức. Ông thiết lập một nền tảng siêu hình nhằm đưa ra giải pháp cho những vấn nạn của Socrates. Thiện hảo và công lý tồn tại độc lập với chúng ta. Chúng ta là những linh hồn bị cầm tù trong thể xác, chúng ta có thể hồi tưởng lại tri thức về các “ý niệm” đã được tạc ghi vào linh hồn chúng ta trong quá khứ. Giáo dục e-ducare là tiến trình hồi tưởng lại các thị kiến về điều Thiện. Vì thế, sự thiện hảo, công bằng, đức hạnh, etc., là những ý niệm tuyệt đối, tồn tại ở thế giới ý niệm. Cho dù trong thế giới khả giác chúng ta chưa hề bắt gặp sự thiện tuyệt đối nhưng ta có thể dùng lý trí để hồi tưởng lại tri thức về các thực tại tuyệt đối này. Dụ ngôn “Cái Hang” Trong tác phẩm Nền Cộng Hòa, Plato dùng dụ ngôn Cái Hang để phân biệt ra hai tầm mức thực tại thế giới vĩnh cửu và thế giới tạm bợ. Tìm hiểu về Đạo Đức thì cũng như các nô lệ đang bị giam cầm nơi hang sâu, chỉ nhìn thấy hình bóng của những gì xảy ra chập chờn trên vách hang đá. Chỉ khi được giải thoát ra ngoài thì mới ý thức là sự tồn tại của mình trong thế giới khả giác trước đây chỉ là ảo ảnh của thực tại bất biến và vĩnh hằng bên ngoài hang tối. Ý nghĩa của dụ ngôn “Cái Hang” Bị trói buộc thân xác nặng nề vì vui thú nhục dục sẽ đè nặng xuống, ngăn cản suy tư đạo đức. Trong bóng tối thế giới nhỏ bé, thiếu kinh nghiệm, không sẵn sàng đón nhận tri thức. Bóng in trên tường mỗi người là thước đo cho chính mình, quan tâm đến mình, chấp nhận bất điều gì mà không biết phê phán. Ánh sáng bên ngoài và sự mù lòa ban đầu nỗi đau đớn khi học biết những chân lý mới, cảm xúc khó chịu khi ý tưởng của ta bị thách đố. Cần “từ bỏ bóng tối” thống trị bởi các đam mê và dục vọng. Nhận ra những bóng tối của chính mình để được tự do theo đuổi tri thức. Tri thức chân thật đòi hỏi sự kỷ luật, quay đầu khỏi các đam mê, và hồi tưởng lại những gì linh hồn đã biết. Trí khôn con người có phần lý tính và phần phi lý tính phần tiếp xúc với thân xác. Do đó hạnh phúc của con người sống trên đời này là dùng lý trí để điều khiển dục vọng và tinh thần. Tri thức luận của Plato gồm bốn bước đi lên hình ảnh, sự vật, toán học, ý niệm, tương đương với bốn mức độ nhận thức tưởng tượng, tin tưởng, suy gẫm và tri thức thật sự. D. Aristote 384-322 BC Aristote phê bình đạo đức học của Plato là lôi cuốn con người đi quá xa khỏi thực tại mình đang sống. Aristote cho rằng bản chất hình thức của sự vật không ở trong thế giới cách biệt ý niệm nhưng trong chính vật chất. Aristote dùng mô hình sinh học biết điều gì nghĩa là nhận ra các bộ phận của nó hoạt động như thế nào trong một toàn thể để nó phát triển hoàn toàn chức năng của nó. Mọi thực thể đều có bản chất và hình thức; hành động được hiểu theo ý hướng và mục đích. Điều mang lại hạnh phúc không hệ tại ở sự vật hay hành động nhưng là trong ý định hay mục đích. Như vậy “sự thiện” của một sự vật là điều kiện vốn giúp nó đạt đến hay hoàn thành ý định hay mục tiêu của nó. Điều kiện này chính là “điểm trung dung” giữa sự thái quá và bất cập. Nhân đức là tương quan đúng đắn giữa sự thái quá và khiếm khuyết khôn ngoan, can đảm. Nhân đức là thói quen chọn những gì tốt nhất để mình có thể phát triển hoàn thành chức năng cao nhất của mình, đó chính là lý trí. Tác phẩm Nicomachean Ethics là bản văn đầu tiên về đạo đức trong nền văn minh Tây phương. Aristote cho rằng không có hình thức nào có thể tồn tại tách biệt khỏi đối tượng. Không có sự thiện hảo nào tồn tại tách biệt khỏi kinh nghiệm sống hàng ngày. Chúng ta biết điều tốt nhờ vào việc quan sát cách thức người ta nỗ lực đạt được điều thiện. Tình bạn hữu chân thật mong ước điều thiện cho người khác chỉ vì họ mà thôi là động lực tối hảo cho việc vun trồng nhân đức. Trong khi tập nhân đức, tìm kiếm sự thiện hảo qua cách chọn cái trung dung, con người phải tận dụng lý trí. Do đó, đời sống lý trí có hai hướng song song theo đuổi chân lý trí thông minh và sự hiểu biết và theo đuổi nhân đức sự trung dung giữa thái quá và khiếm khuyết. Đây là mô hình “sinh học” bạn chỉ biết bản chất của một vật khi bạn nắm bắt được toàn bộ tiềm năng của nó. Vì con người là động vật có lý trí, tiềm năng lý trí sẽ đưa chúng ta đến hạnh phúc; trong tiến trình này, chúng ta có thể học biết điều thiện hảo. II. THỜI TRUNG CỔ đức tin và lý trí Vấn đề Lý trí nâng đỡ hay cản trở đức tin trong khi truy tầm nhận thức về điều đúng hay sai. Một mình lý trí có thể nắm bắt được bản chất của luân lý hay không? A. Thánh Augustine 354-430 ánh sáng nội tại Khuynh hướng nhị nguyên có hai loại nhận thức, hay hai thành đô. Thành đô Thiên Chúa và thành đô con người; thế tục đối ngược với thánh thiêng. Có hai trật tự tự nhiên khả giác, thành đô con người, công ích, thế tục và siêu nhiên khả tri, thành đô Thiên Chúa, vĩnh cửu. Vai trò của niềm tin Kitô, Giáo Hội, Kinh Thánh Đạo đức Kitô giáo hướng đến tìm kiếm những giá trị bất biến, vĩnh cửu. Triết học đưa đến sự hiểu biết còn thần học đưa đến sự khôn ngoan. Thánh Augustin viết hơn 700 tác phẩm, đáng lưu ý nhất là cuốn Tự thuật và Thành đô của Thiên Chúa. Tính nhị nguyên của thánh Augustine đời sống lý trí hướng đến hạnh phúc tạm thời, điều thiện tự nhiên và chóng qua, và đời sống đức tin đưa đến sự cứu rỗi và hạnh phúc vĩnh cửu, điều thiện siêu nhiên. Vì cuộc đời này chỉ là sự chuẩn bị cho đời sau cho nên không thể tìm thấy hạnh phúc thực sự và vĩnh cửu ở đây. Con người sa ngã do nguyên tội nhưng vẫn còn ý chí tự do và trách nhiệm đối với các hành vi của mình. Vì lẽ đó, nhân đức có thể luyện tập được nhưng giá trị thực sự phải được thúc đẩy bởi niềm tin vào Thiên Chúa hằng hữu. Con người sống như khách lữ hành trong thế giới này. B. Thomas Aquinas 1225-1274 lý trí phối hợp với đức tin Lý trí đưa đến các nhân đức trí tuệ; nhưng đức tin đưa đến nhân đức đối thần. Lý trí là tiếng nói của lương tâm. Một mình lý trí thông thường có thể đạt đến hiểu biết quy luật tự nhiên. Tôma tái khám phá và Kitô hóa triết học của Aristote, tạo nên một sự hài hòa giữa nền đạo đức tự nhiên và đạo đức hướng thần. Phạm vi sáng tác của Tôma rất rộng, quan trọng nhất là tác phẩm Summa Theologica, và Summa Contra Gentes. Đạo đức tự nhiên bao gồm việc phát triển khả năng của lý trí đồng thời thực hành đời sống luân lý; đạo đức tự nhiên đưa con người đến hạnh phúc trần thế. Đạo đức hướng thần bao gồm việc đạt được các nhân đức hướng thần tin-cậy-mến nhờ ân sủng của Thiên Chúa. Tôma cho rằng Luật tự nhiên – Luật siêu nhiên được viết trong tâm hồn – được khám phá bởi lý trí và trau dồi bởi lương tâm. Khi chấp nhận tính độc lập và khả năng đạt đến chân lý của lý trí, đạo đức học của Tôma có một lối nhìn mang tính khoa học hơn về con người. Sống đạo đức là biết sống tuân theo bốn qui luật luật vĩnh cửu, luật tự nhiên, luật xã hội, và luật Thiên Chúa. III. CÁC KHUYNH HƯỚNG CẬN ĐẠI 1. Luân lý “Tự Vệ” versus luân lý “Đồng Cảm” Hobbes 1588-1679 nhà tư tưởng đầu tiên tiếp cận đạo đức một cách hệ thống theo quan điểm khoa học. Trong tự nhiên, tự bản chất con người tìm kiếm sự bảo toàn cho chính mình. Trong tình trạng tự nhiên, đúng hay sai không tồn tại, không có luân lý. Chỉ khi xã hội dân sự hình thành và khi mọi người sẵn sàng đồng ý cống hiến trọn vẹn lòng trung thành cho đất nước thì đạo đức mới có thể thực hiện được. Nhà nước có thể trừng phạt những hành động ngăn trở hoặc ban thưởng cho những hành động cổ võ công ích và sự an toàn của người dân. Do đó, đạo đức học đối với Hobbes xuất phát từ nhu cầu tự vệ. David Hume 1711-1766 ngược lại với cái nhìn đạo đức mang tính cơ học và duy vật của Hobbes, Hume cho rằng cảm giác về sự đau đớn đưa chúng ta đến việc suy tư và hình thành nên những quan niệm về công lý và điều thiện, từ đó tạo nên một hệ thống các phán đoán luân lý. Luân lý có khía cạnh khách quan kết quả của hành động và chủ quan cảm giác về mức độ hài lòng mà người khác có được. Một mình lý trí không thể trả lời hết những vấn nạn luân lý, nhưng cần một “sự đồng cảm luân lý” trong việc chọn lựa điều gì hữu ích hay hài lòng để hành động. 2. Đạo đức học “Bổn Phận” versus Đạo đức học “Hậu Quả” Emanuel Kant deontology, bổn phận Con người muốn được tự do theo đuổi lý tưởng đạo đức của mình mà không bị trói buộc bởi bất cứ áp lực gì từ bên ngoài. Do đó, chúng ta cảm thấy có bổn phận và trách nhiệm làm “đúng” hay làm theo “lẽ phải” dù điều đó mang lại lợi ích hay không lợi ích cho mình. Vì muốn được tự do và đạt đến hạnh phúc thực sự, chúng ta tuân theo “mệnh lệnh tuyệt đối”. Điều cao thượng nhất trên đời này chính là ý chí muốn thực hành điều đúng bất kể nó có mang lại hậu quả tốt cho mình hay không “The highest good is the good will.” John Stuart Mill consequentialism, chủ thuyết hậu quả. Hậu quả là nguồn gốc của đạo đức học vị lợi. Đạo đức nhắm vào những giá trị có thể gia tăng tối đa hậu quả “tốt nhất” cho mọi người. Hành vi đạo đức là hành vi mang lại lợi ích tối đa cho nhiều người nhất. Đạo đức vị lợi là sự trung dung giữa vị tha và vị kỷ, luôn tìm hành vi mang đến hậu quả “tốt” thay vì “đúng”, cho nên nhiều khi hậu quả của “hành vi” vị lợi và hậu quả của “nguyên tắc” vị lợi có thể mâu thuẫn nhau. Do đó cần phải có sự cân bằng giữa hai khía cạnh này của vị lợi. “Luôn luôn phải chọn hành vi mang lại lợi ích tốt nhất cho nhiều người nhất” Mill. IV. CÁC VẤN ĐỀ TRONG ĐẠO ĐỨC HỌC HIỆN NAY 1. Đạo đức giới tính gender ethics Khám phá những nguyên tắc đạo đức “vô hình” nhưng bất công đối với phụ nữ hay người đồng tính đang tiềm tàng trong sinh hoạt của nhiều tầng lớp xã hội, ước khế lao động, tổ chức tôn giáo, và cách đối xử giữa con người với nhau. Đạo đức học giới tính muốn tìm những tiêu chuẩn đạo đức công bằng hơn về giới tính, và tôn trọng nhân phẩm của mọi người trong mọi bối cảnh văn hóa, xã hội, tôn giáo và ngôn ngữ. 2. Đạo đức môi sinh environmental ethics Trong tiến trình phát triển kinh tế và xã hội, môi trường đã bị khai thác và lạm dụng đến mức gây tổn hại lâu dài đến sức khỏe con người và sự sống trên hành tinh này. Đạo đức học môi sinh cố gắng tìm những nguyên tắc đạo đức có khả năng hồi phục lại sự quân bình giữa phát triển kinh tế và nhu cầu của con người với sự sinh tồn của các sự sống khác trong tự nhiên. 3. Đạo đức học sự sống bio-ethics & medical ethics Những tiến bộ gần đây và trong ngành y khoa công nghệ sinh sản IVF, liệu pháp gen, chọn lựa tiền sản, nhân giống vô tính, kéo dài sự sống, khả năng tạo ra những hỗn hợp người-động vật, etc. đã thử thách y đức Hippocrates và luân lý Kitô giáo cổ điển. Kỹ thuật tân tiến về chăm sóc và kết thúc sự sống đã biến quyết định giữa bác sĩ và bệnh nhân thành những tranh cãi công chúng về các vấn nạn rất nhân bản về sự sống con người lúc ban đầu cũng như giá trị của cuộc sống của người khuyết tật. Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi ta xét khía cạnh bảo vệ động vật và sinh thái học. Các nhà đạo đức sinh học đang bận rộn tìm những nguyên tắc đạo đức hầu để hướng dẫn các chọn lựa hay phán đoán không chỉ trong y khoa và sinh thái học mà cả về các giới hạn của thí nghiệm khoa học. 4. Siêu học thuyết về đạo đức meta-ethics Trong thế kỷ gần đây, các triết gia bắt đầu chú tâm đến khía cạnh logic, ngôn ngữ của lý luận, tiến trình suy tư và hành động trong ngành đạo đức học. Chuyên gia nghiên cứu siêu học thuyết về đạo đức không đưa ra đề nghị chúng ta nên phán đoán như thế nào, nhưng trái lại tìm kiếm tri thức về bản chất của ngôn ngữ đạo đức, về cơ cấu của phán đoán đạo đức, và mối tương quan của các loại đạo đức học. Linh Mục Josheph Nguyễn Đoàn Tân, Ofm Tài liệu tham khảo Joseph Nguyễn Đoàn Tân, Đạo Đức Học Tổng Quát, NXB Phương Đông, 2016 Joseph Tân Nguyễn, ofm Hạnh phúc con người không chỉ là thỏa mãn các nhu cầu bản năng nhưng còn hệ tại vào các giá trị đạo đức mà chúng ta tin sẽ mang lại một cuộc sống nhân bản cho chúng ta. Nhưng các giá trị đạo đức có thật không, hay chỉ là những thói quen mà truyền thống và xã hội áp đặt lên cá nhân, tạo nên mặc cảm tội lỗi nếu ta không tuân theo? Làm sao biết giá trị đạo đức nào sẽ mang lại hạnh phúc cho đời mình? Bản chất của chúng là tương đối hay tuyệt đối? Khách quan hay chủ quan? Đạo đức đến từ tôn giáo hay văn hóa? Bất biến hay thay đổi theo luật tiến hóa? Nếu con người bị điều kiện bởi các yếu tố tâm lý và thể lý thì thật sự có tự do chọn lựa các giá trị đó không? Cuối cùng, tại sao chúng ta nên sống đạo đức? Triết học đạo đức nghiên cứu về các chủ đề rộng lớn và quan trọng này. PHẠM VI TRUY VẤN CỦA ĐẠO ĐỨC HỌC Lịch sử triết học đạo đức đã phát triển theo hai chiều hướng sau đây. Chiều hướng thứ nhất được gọi là“đạo đức quy chuẩn” prescriptive ethics. Lãnh vực này thống trị triết đạo đức suốt hơn hai kỷ nguyên qua - khởi đầu bằng những truy vấn về mối tương quan giữa tri thức và đức hạnh của Socrates 469-399 BC. Chiều hướng này nghiên cứu các giá trị, nguyên tắc và tiêu chuẩn luân lý, hầu để giúp chọn lựa các hành vi sao cho phù hợp với mục tiêu mang lại “hạnh phúc” cho con người. Đạo đức học quy chuẩn trả lời câu hỏi, “một cá nhân nên hành xử như thế nào” bằng cách đưa ra các tiêu chuẩn đạo đức như vị kỷ, vị lợi, luật tự nhiên, bổn phận, nhân đức, Mỗi tiêu chuẩn đạo đức sẽ bao gồm các quy tắc đặc thù để bảo đảm các giá trị nền tảng của chúng được thể hiện cách toàn vẹn. Chiều hướng thứ hai mang nặng tính lý thuyết, thường được gọi là đạo đức học siêu hình meta-ethics. Đây là một hiện tượng mới - tuy đã có nguồn gốc từ triết Cổ Hy Lạp - được khai thác chỉ trong thế kỷ vừa qua. Đạo đức học siêu hình không đề nghị chúng ta nên hành xử như thế nào, nhưng tra cứu các hình thức lý luận trong suy tư đạo đức. Đạo đức học siêu hình khám phá về bản chất và cấu trúc của ngôn ngữ đạo đức, mối tương quan giữa các khẳng định trong một hệ thống luân lý, các nền tảng của tri thức đạo đức, và những điền kiện để lý luận đạo đức được hợp lý. Tuy nhiên, triết học không phải là môn học duy nhất xem xét cách cư xử và tính cách đúng đắn của con người. Thần học cũng bàn về các vấn đề cơ bản này. Trong khi thần học luân lý dựa trên viễn tượng đức tin tôn giáo vốn đã được cộng đoàn tín hữu chấp nhận thì triết học đạo đức phải lý luận hoàn toàn dựa trên lý trí và kinh nghiệm. Đối với các tín hữu, giáo lý không thể bị tranh cãi ngoại trừ cách giải thích về chúng, thì trong triết học đạo đức mọi câu hỏi về đạo đức đều có thể được đem ra bàn luận - ngay cả câu hỏi liệu có một đạo đức học đúng hay không? Tuy nhiên, có nhiền học giả vừa là triết gia vừa là thần học gia Augustine, Tôma, nhận thấy có sự hài hòa giữa thần học luân lý và triết học đạo đức, mặc dù các điểm xuất phát của hai môn học này thì cơ bản khác nhau. Hạn từ “ethics” thường được dùng trong phạm vi triết học đạo đức, còn “morality” thì trong khuôn khổ của thần học luân lý. Từ “ethics” bắt nguồn từ tiếng Hy lạp “ethos”, có nghĩa là “phong tục” số ít và “tính cách” số nhiều. Từ “morality” được dịch từ tiếng La tinh “mos” số nhiều mores cũng mang ý nghĩa tương đương như trong tiếng Hy Lạp. Từ các nghĩa gốc này chúng ta thấy đạo đức học liên quan đến cả về “hành vi” phong tục, thói quen lẫn sự hình thành nên “tính cách” loại người, cá tính mà chúng ta muốn trở thành. Mối tương quan này rất quan trọng trong sự phát triển đạo đức học. Vì lẽ, tính cách character của chúng ta được hình thành chủ yếu từ những thói quen hành động actions của mình. Mặt khác, thói quen thực hành các hành vi tốt sẽ giúp chúng ta tối đa hóa khả năng chọn lựa điều tốt nhất trong mọi hoàn cảnh, và như thế sẽ tạo nên một “tính cách thứ nhì” cho mình virtues. Các nghĩa gốc này cũng giúp chúng ta hiểu tại sao chúng ta gọi đạo đức học là môn học về cách phải sống đời mình như thế nào, phải cư xử và sở hữu những tư cách đúng đắn nào để trở nên một con người có nhân bản. Triết học Tây phương, từ Socrates cho đến Wittgenstein, đều nhận thấy truy vấn đạo đức học là một nguồn phát sinh chính yếu cho các vấn nạn lớn trong triết học. Hầu như trong mọi nền văn hóa tồn tại trong lịch sử nhân loại đều có những nỗ lực tìm kiếm những gì mang lại hạnh phúc cho con ngưởi. Ai cũng muốn biết thế nào là cuộc sống tốt. Đâu là những tư cách đáng tôn trọng nơi con người? Có thể đòi hỏi trách nhiệm hay bổn phận gì từ các cá nhân và tập thể có tương quan huyết thống, xã hội, hay quốc gia? Hiểu biết về đạo đức có thật sự đưa đến hành vi đạo đức hay tạo nên một tư cách nhân bản không? Triết học Hy Lạp cổ điển đã nâng các câu hỏi này lên một mức độ phản tỉnh sâu sắc hơn. Họ hỏi Liệu lý trí con người có khả năng trả lời các câu hỏi trên đây một cách khách quan không? Nếu tri thức đạo đức có thật thì chúng sẽ đến từ đâu? Có thể có các giá trị đạo đức phổ quát, độc lập khỏi mọi giới hạn văn hóa, tôn giáo, tập quán hay luật lệ xã hội không? Một khi chúng ta suy tư phản tỉnh như thế thì chúng ta đang bước vào ngưỡng cửa của triết học đạo đức. Điều đáng ngạc nhiên là mức độ cấp bách và thiết yếu mà triết học Hy Lạp ngay từ ban đầu đã gán cho các câu hỏi này. Họ gắn liền truy vấn đạo đức với sự tồn tại và thịnh vượng của nhà nước, trật tự trong xã hội, và hạnh phúc con người. Nếu chúng ta muốn biết thế nào là một bài hát hay hoặc một bác sĩ giỏi thì chúng ta cần tìm các “quy chuẩn” trong mỗi ngành để xác định câu trả lời. Nhưng nếu chúng ta tiếp tục hỏi liệu các “quy chuẩn” này đóng góp thế nào cho nỗ lực xây dựng hạnh phúc và tìm kiếm ý nghĩa chân thực cho cuộc sống thì chúng ta đang truy vấn đạo đức. Phạm vi của truy vấn đạo đức sẽ bao gồm cả về trách nhiệm, bổn phận, tư cách và hành vi nhân bản. Đạo đức học lưu tâm đặc biệt về hậu quả tổng thể của hành vi hay chọn lựa trên nỗ lực tìm sự thiện hảo cho con người. YẾU TỐ CẢM XÚC TRONG PHÁN ĐOÁN ĐẠO ĐỨC Đạo đức học đóng vai “điều phối” như trên là vì đạo đức học ưu tư đặt biệt về cách chúng ta phán đoán các hành vi nhân bản trong tương quan với nỗ lực xây dựng hạnh phúc con người. Trong khi lôgic phán đoán về tính hợp lý của tiến trình suy tư - hành vi có thống nhất với niềm tin hay không - thì đạo đức học nhắm vào mối tương quan giữa động lực và hậu quả của một hành vi và ảnh hưởng tổng thể của nó trên tư cách làm người trong xã hội. Nói như thế có nghĩa là đạo đức học vẫn còn mang nhiều yếu tố cảm xúc đến từ phản ứng của tha nhân về cách sống và ứng xử của chúng ta. Từ những phản ứng này, chúng ta có thể biện phân những động lực vốn sẽ tạo nền tảng cho cách chúng ta đánh giá một cá nhân. Ba yếu tố cảm xúc căn bản mà chúng ta cần xét ở đây là trách móc, ca ngợi và ước muốn. Khi quan sát các yếu tố cảm xúc này chúng ta sẽ khám phá ra các manh mối cho tính phổ quát của phán đoán đạo đức. Trước tiên, “trách móc” là một thái độ thông thường nhất trong phán đoán đạo đức. Khi ta khiển trách một cá nhân vì hành vi bất xứng của họ, ta không chỉ cho rằng hành vi của người đó không đúng mà còn cả động lực của họ là không tốt. Khi ta không chấp nhận hành vi của một chủ thể trưởng thành tức là ta đang đánh giá về tư cách của người đó, và cho rằng người đó “có lỗi” và phải chịu “trách nhiệm” về hậu quả của hành vi của họ. Cho dù cảm xúc sân hận có thể không hiện diện, nhưng trách móc đã là một hình thức trừng phạt rồi, ít nhất qua thái độ và sự đánh giá của mình về cá nhân đó. Mức độ “trừng phạt” thì tùy theo trách nhiệm và tính “có lỗi” của chủ thể. Một hệ luận có thể rút tỉa được là khi chúng ta cho rằng chủ thể phải chịu trách nhiệm phần nào cho hậu quả của hành vi của mình, thì việc chúng ta khẳng định họ đáng bị khiển trách không phải là hoàn toàn vô lý. Vì lẽ, bên dưới sự trách móc có một trực giác cho rằng mọi người có bổn phận theo đuổi một mức độ trưởng thành luân lý nào đó. Tương tự như trên, “ca ngợi” hay khen thưởng cũng để lộ một trực giác về tư cách và sự trưởng thành luân lý mà ta ước muốn mọi người nên có. Có những giá trị mà mọi người ao ước được sở hữu như “cá tính thứ nhì” như can đảm, nhân từ, cao thượng, sáng tạo, kiên nhẫn, tiết độ, khôn ngoan, tháo vác, lanh lẹ, tế nhị, khỏe mạnh, sung túc, sắc đẹp, Chúng ta có thể tranh luận về mức độ thiết yếu của mỗi giá trị trên đây, tuy nhiên, mẫu số chung là chúng có khả năng đóng góp vào hạnh phúc và sự viên mãn của đời sống con người. Như vậy, khi chúng ta cho rằng một số hành vi hay tư cách đáng khen ngợi, tức là ta đang ý thức về những giá trị quan trọng cho hạnh phúc của cuộc sống. John Stuart Mill - cha đẻ của trường phái thực dụng - không sai khi cho rằng “hạnh phúc là sự ước muốn căn bản nhất của con người trong cả lý thuyết lẫn thực hành”. Cuối cùng, cả trách móc và ca ngợi đều tiềm tàng một ước muốn rằng con người là một chủ thể tự do, có trách nhiệm cho hành vi nhân bản và sự chọn lựa của mình. Chúng ta “ao ước” rằng mọi người chung quanh mình sống trung thực, nhân đạo, tôn trọng sự công bằng và tự do của tha nhân. Người ta không lên án một đứa trẻ hay một bệnh nhân tâm thần, nhưng chỉ một cá nhân trưởng thành vì một hành vi vô luân của họ. Chúng ta ước muốn mọi chủ thể trưởng thành thật sự dùng tự do chọn lựa khi hành động, cho dù cá nhân ấy có thể thiếu khả năng kiềm chế các cám dỗ hoặc bị áp lực tâm lý và xã hội. Tuy nhiên, tự do sẽ là điều kiện tiên quyết và tất yếu cho mọi phán đoán đạo đức, vì thiếu tự do thì phán đoán đạo đức trở thành vô nghĩa. Như thế, qua trách móc, ca ngợi và ao ước chúng ta có thể giả định là con người là một chủ thể có tự do chọn lựa và phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình. Mục tiêu cơ bản của đạo đức học là cung cấp các giá trị khách quan liên quan đến viễn tượng đạo đức của mình. Nhưng khi truy vấn về lý luận đạo đức thì chúng ta phải trả lời cho câu hỏi cuối cùng, đó là, “Tại sao tôi phải sống đạo đức?” Giả sử một hôm trên đường phố vắng, tôi nhặt được một cái ví với một số tiền lớn cùng với tên và địa chỉ của người mất cái ví ấy. Trong vài giây phút, tôi có thể phân vân mình có nên dùng số tiền “may mắn” này cho mình. May mắn đối với tôi nhưng lại kém may mắn cho người đánh mất ví tiền. Nếu tôi không trả ví tiền lại cho khổ chủ thì hành vi của tôi cũng không ai hay biết. Như vậy, có lý do chính đáng nào để tôi chọn sự chính trực thay vì tìm lợi ích cho mình không? Suy tư như thế này đưa ta đến việc nhận ra mục đích cuối cùng của đạo đức là sự thiện. Sống đạo đức là sống theo điều thiện, là hành động đúng không vì tư lợi. Nhưng sự thiện là gì? Sự thiện đối với ai? Điều thiện là tốt vì tự bản chất của nó, hay là vì nó sẽ mang lại lợi ích cho ta? Cho dù ta có thể tìm được một định nghĩa khách quan và phổ quát cho sự thiện đi nữa thì trong thực tế, một người làm một việc thiện nhưng với mục đích xấu có phải là người tốt không? Hoặc người khác có ý định tốt nhưng lại làm điều xấu do họ không biết, liệu người ấy có phải là người xấu chưa? Mặc khác, nếu một người làm điều xấu nhưng mang lại hậu quả tốt, thì ta nên phán đoán như thế nào? Lấy ví dụ, một tên trộm khi đập cửa kính lén vào một nhà, thấy một bà cụ nằm bất động dưới đất, bị ngộ độc vì khí carbon dioxide tràn ngập trong nhà bị đóng kín vì đang dùng lò sưởi mùa đông. Bỗng nhiên bà cụ bắt đầu cử động, và hệ thống báo động cũng âm thầm liên hệ với cảnh sát, và tên trộm cuối cùng bị bắt. Điều mà tên trộm không biết là hành vi đập cửa kính vô tình làm cho khí độc thoát ra và khí sạch tràn vào nhà và cứu sống được bà cụ. Như vậy, hành vi xâm phạm gia cư bất hợp pháp này là tốt hay xấu? Đáng khen hay đáng trách? Đúng hay sai? Như thế, định nghĩa khách quan của sự thiện tự nó sẽ không thể trả lời câu hỏi “Tại sao ta phải sống đạo đức”. Nhiệm vụ của đạo đức học là giúp chúng ta đạt được mục tiêu đã được giả định trong lý tưởng hạnh phúc của mình khi phân biệt giữa điều thiện và ác. Nhưng đạo đức học không thể cung cấp câu trả lời khách quan cho câu hỏi “Tại sao ta phải chọn điều thiện?” Đây là câu hỏi nằm ngoài phạm vi của triết học và là giới hạn của lý luận đạo đức. Nó thuộc về lãnh vực thực tế và chỉ có ý nghĩa một khi chúng ta chấp nhận việc theo đuổi sự thiện gắn liền với nỗ lực tìm hạnh phúc cho đời mình. SỰ THIỆN VÀ BẢN TÍNH CON NGƯỜI Đạo đức học là môn nghiên cứu về cách chúng ta phải sống hay chọn lựa sự thiện hảo như thế nào để đạt đến hạnh phúc. Nhiều người cho rằng sự thiện cao cả nhất của con người là thể hiện tiềm năng và bản tính của mình một cách trọn vẹn. Nhưng “bản tính con người” là gì? Và làm thế nào chúng ta thể hiện được bản tính ấy? Nếu cho rằng con người là “con vật có lý trí” thì đạo đức là tận dụng lý trí để mang lại hạnh phúc cho mình. Hoặc, nếu bản tính con người là tìm kiếm sự sung mãn cho tất cả mọi người, thì đạo đức chính là đạt đến các điều vị lợi ấy. Như thế, việc bảo vệ và phát huy các “khuynh hướng tự nhiên” của bản tính con người là điều thiện hảo và đáng theo đuổi. Đây là cơ sở cho sự phát triển của đạo đức học “luật tự nhiên”. Trong vở kịch “Antigone” của Sophocles Wyckoff, 1959, người hùng Antigone nại đến qui luật cao cả này để biện minh cho hành vi chôn xác người anh ruột, cho dù có lệnh vua cấm vì người anh đã nổi loạn chống lại chính quyền thành Thebes. Hãy xem đoạn đối thoại sau đây -Vua Creon Hãy nói cho ta biết, nhà ngươi có biết lệnh vua cấm làm việc này không? -Antigone Lẽ dĩ nhiên tôi biết. Lệnh vua rất rõ ràng. -Vua Creon Sao nhà ngươi vẫn coi thường lệnh vua? - Antigone Đối với tôi, lệnh này không đến từ Thần Zeus và cũng không do Thần Công lý hay do các vị Thần dưới trướng Zeus ban ra. Hơn nữa, tôi không nghĩ rằng luật của nhà vua, trong thân phận là con người, lại có thẩm quyền cao hơn luật của Thần Minh vốn đã có tự muôn đời. Giá trị của luật các Thần Minh đã có từ hôm qua, tiếp tục hôm nay và mãi mãi và không ai thật sự biết chúng đã bắt đầu từ thủa nào... Phản ứng và lý luận của Antigone trên đây cho thấy ngay từ thủa ban đầu của triết học, con người đã nhận ra lương tâm và lý trí là nền tảng tất yếu cho phán đoán đạo đức, căn bản hơn cả mọi qui luật tôn giáo hay luật pháp nhà nước. Trong lương tâm con người đã được khắc ghi một quy luật luân lý có từ đời đời và con người biết nó qua lý trí. Con người là một chủ thể luân lý và trên nền tảng những gì “tự nhiên đối với con người”, triết Hy Lạp Cổ đại đã khai triển một số mô hình đạo đức học, rất quan trọng cho sự phát triển của triết học Tây phương sau này. Tuy nhiên, không phải mọi triết gia đều đồng ý rằng đạo đức học cần phải được xây dựng trên bản tính con người. Có thể họ cho rằng bản tính con người cơ bản là ích kỷ hoặc chưa hoàn toàn và đạo đức là khắc phục khuynh hướng vị kỷ tự nhiên đó. Có triết gia cho rằng giá trị đạo đức cơ bản là thể hiện bản tính độc đáo riêng qua các chọn lựa tự do của chủ thể. Có giả thuyết cho rằng người khác phái không thể có chung bản tính và như thế phụ nữ cần thể hiện bản tính mình cách độc lập và sáng tạo, không phải theo mô hình của phái nam. Vì thế, khó mà đạt đến một quan điểm chung hay sự thống nhất về “bản tính con người”. Trong thời Cận đại, đạo đức học đã chuyển mình từ một môn học về hạnh kiểm và tính cách đúng đắn của bản tính con người sang một khoa nghiên cứu về các hình thức hay nguyên tắc cần thiết cho việc đánh giá hành vi đạo đức. Nhiều phạm trù đạo đức học mới đã được đưa ra như hậu quả consequentialism, ý định intentionality, hình thức formal, bổn phận deontology, và nhân cách character. Trước tiên, thuyết “hậu quả” là khuynh hướng đánh giá một hành động hay tính cách tùy theo khả năng chúng thăng tiến hay gây tổn hại đến hạnh phúc con người. Nhưng “ý định” cũng là yếu tố không kém quan trọng, vì một người có thể làm việc từ thiện mang lại nhiều kết quả tốt cho người nghèo, nhưng với tham vọng chính trị hay ý đồ bất chính thì hành vi của họ chưa chắc là cao thượng. Nếu cả hai khuynh hướng ở trên đều nhắm vào thực chất của hành vi, thì khuynh hướng thứ ba nhắm vào “hình thức luân lý phổ quát” đúng một hành vi. Một hành động chỉ là đúng nếu nó là hành động mà ta có thể ước ao trung thực rằng mọi người trong cùng hoàn cảnh sẽ thực hiện, và ta có bổn phận phải tuân thủ hình thức luân lý phổ quát của nó. Ví dụ, theo Kant, hành vi gian lận khi làm bài thi là sai vì “hình thức luân lý” của hành vi đó không thể phổ quát hóa được; nó sẽ bào mòn ý định của người muốn gian lận. Cuối cùng, quan điểm “nhân cách” cho rằng hành động chỉ là cách diễn tả của một cá tính đã được hình thành nơi tác nhân. Do đó, đạo đức học nên nhắm vào việc rèn luyện nhân cách thay vì cân nhắc về các khía cạnh thực chất của hành vi. Ngoài ra, đạo đức học còn có các thử thách khác. Nếu luân lý morality xuất phát từ những thói quen mores của con người sống trong xã hội thì phán đoán đạo đức lại không thể hoàn toàn tuyệt đối hay hoàn toàn tương đối. Từ phái Ngụy biện cho đến Nietzsche đã cho thấy giá trị đạo đức luôn luôn bao hàm các yếu tố chủ quan. Do đó, có cách nào bênh vực cho tính khách quan của phán đoán đạo đức không? Mặt khác, mọi suy tư và hành vi con người đều có nguồn gốc và bị chi phối bởi các yếu tố thể lý, tâm lý hay bối cảnh xã hội. Như vậy, hành vi con người bị tiền định và không hoàn toàn tự do thì làm sao ta có thể có phán đoán đạo đức một cách trung thực được? Hơn nữa, sự hiểu biết và tri thức đạo đức của con người thì thay đổi và tiến hóa theo thời gian, như vậy các phán đoán đạo đức của truyền thống còn đúng không? Tiến hóa có loại bỏ các giá trị đạo đức cổ điển không? ĐẠO ĐỨC HỌC VÀ CÁC KHOA HỌC KHÁC Các nhà xã hội học tiếp cận đạo đức từ góc độ mô tả hay tường thuật. Họ đưa ra những giả thuyết phổ quát để giải thích hành vi và các chọn lựa của cá thể hay tập thể trong xã hội và dùng cách giải thích này để làm sáng tỏ quan điểm đạo đức của các cá thể hay tập thể đó. Nói chung, khoa xã hội học tránh đề nghị một hệ thống luân lý hay xử lý nào cho xã hội, nhưng nếu họ bước vào phạm vi này thì họ trở thành các triết gia đạo đức học. Nhà nghiên cứu giáo dục có thể tìm cách áp dụng các học thuyết đạo đức nào cho thích hợp với quan điểm giáo dục của họ. Có những triết gia như Plato đã đi sâu hơn, khai triển về các chủ đề giáo dục đạo đức. Một nhà giáo dục sẽ cẩn thận cân nhắc về hậu quả và cách thức áp dụng đạo đức học trước khi đi đến quyết định chọn lựa. Nhưng họ không bận tâm về bản chất, ngôn ngữ hay cách lý luận của đạo đức học như triết học đạo đức. Thần học cũng khai thác các học thuyết đạo đức và hệ thống phán đoán cho thích ứng với truyền thống tôn giáo. Nhưng lý luận của thần học luân lý thì dựa trên “mạc khải” vốn đã được cộng đoàn các tín hữu thừa nhận rồi. Trong khi đó, triết học đạo đức dựa trên lý trí và nới rộng quan điểm của mình để bao gồm các lãnh vực rộng rãi hơn tôn giáo. Mục đích của triết học đạo đức là xác định tính nhất quán và hợp lý của các mô thức dùng trong lý luận đạo đức. Các nhà làm luật, chính quyền hữu trách cũng tra cứu mối tương quan giữa đạo đức học và pháp luật. Nhưng luật pháp và đạo đức là hai lãnh vực khác nhau. Hành vi trái với đạo đức không nhất thiết phải là vi phạm pháp luật cha mẹ nói dối với con cái. Hoặc hành vi phạm pháp chưa hẳn là xấu dùng xe không xin phép chủ để chở bệnh nhân đi cấp cứu. Tuy chính trị gia có thể phản đối việc “luật hóa” luân lý nhưng họ vẫn dùng triết đạo đức như nền tảng cho việc chú giải luật pháp hay bênh vực cho quan điểm của họ. Tài liện tham khảo Đạo Đức Học Tổng Quát. Joseph Tân Nguyễn, ofm. Nhà Xuất Bản Phương Đông, TP HCM, 2016. 1. Khái niệm đạo đứcĐạo đức là gì?Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos moris – lề thói, moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa. Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói; tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ. Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân nay, đạo đức được định nghĩa như sau đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã định nghĩa này có mấy điểm cần chú ý sauĐạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức. Nó xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài người,…chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ quan niệm xã hội hiện thực xã hội để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong đó có tư tưởng đạo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người. Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo điều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng. Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó. Ví dụ Thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô. Thích ứng với chế độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản. Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột. Như vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định.– Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức…Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa. Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy. Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định. Những khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân. Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch… và đối với người khác. Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận. Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác khuôn khép hành vi là tiền đề của hành vi đạo đức của cá nhân. Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm…Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình. Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người.– Đạo đức là một hệ thống các giá trị là đối tượng của giá trị học giá trị học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên một cách truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội – chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo1. Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực mệnh lệnh, đánh giá rõ hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một hình thức chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó. Nghĩa là nó bài tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định. Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp lệ thống trị xã hội. Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức. Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo. Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân Nguồn gốc, bản chất của đạo đứca/ Nguồn gốc của đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ trong tồn tại xã hội, từ những quan hệ của con người với tự nhiên và quan hệ giữa người với nhau trong cuộc sống– Đạo đức là hệ thống những quan điểm, quan niệm, những nguyên tắc, chuẩn mực, những giá trị của xã hội nên đạo đức thuộc lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội. Đạo đức ra đời và phát triển là do nhu cầu phải điều tiết mối quan hệ giữa các cá nhân và hoạt động chung của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Quan hệ đạo đức biểu hiện quan hệ của con người trước tiên là quan hệ trong sản xuất Cơ sở kinh tế của xã hội như thế nào thì ý thức đạo đức của xã hội như thế ấy. Khi đời sống vật chất của xã hộï biến đổi, xã hội ngày càng tiến bộ thì những quan niệm đạo đức, những nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức cũng biến đổi theo và ngày càng được hoàn thiện. Do vậy đạo đức là hiện tượng có tính lịch sử xã hội. Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, ở mỗi giai cấp khác nhau thì có các quan điểm khác nhau về cái tốt, cái xấu; cái thiện, cái ác, hạnh phúc và bất hạnh ; về lương tâm và vô lương tâm cũng như về nghĩa vụ, trách nhiệm . Trong lịch sử, có đạo đức của xã hội nguyên thủy, của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức của xã hội phong kiến, đạo đức của xã hội tư bản chủ nghĩa và đạo đức của xã hội cộng sản chủ nghĩa.– Trong xã hội có đối kháng giai cấp thì đạo đức cũng có tính giai cấp, nghĩa là tùy thuộc vào vị trí xã hội, địa vị xã hội và lợi ích giai cấp khác nhau mà các quan điểm về đạo đức cũng khác nhau. Đạo đức của giai cấp bóc lột thường đối lập với đạo đức của quảng đại quần chúng lao động và toàn xã hội.– Đạo đức cũng có tính kế thừa. Lênin nói rằng tính kế thừa của đạo đức phản ánh “ những luật lệ đơn giản và cơ bản của bất kỳ cộng đồng người nào”. Mọi thời đại đều lên án cái ác, tính tàn bạo, tham lam, hèn nhát, phản bội vv. và biểu dương cái Thiện, sự dũng cảm, chính trực, độ lượng, khiêm tốn…– Trong xã hội không có giai cấp hoặc không có đối kháng giai cấp thì đạo đức xã hội phù hợp với đạo đức cá nhân. Xã hội đó sẽ có được một nền đạo đức thật sự nhân đạo, vượt lên trên mọi sự đối lập về giai cấp. Đó là trình độ của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ Bản chất đạo trưng của đạo đức là năng lực ý thức và hành động tự nguyện, tự giác của con người vì cái Thiện.– Lẽ tất nhiên của sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người đòi hỏi con người sống trong cộng đồng phải biết tuân thủ những nguyên tắc và những chuẩn mực do xã hội đề ra để điều chỉnh quan hệ của mình. Có nhiều loại chuẩn mực xã hội, trong đó những nguyên tắc chuẩn mực được thực hiện một cách tự giác nhằm điều chỉnh quan hệ giữa cá nhân này với cá nhân khác và với xã hội vì hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội được gọi là những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức– Hoạt động đạo đức của con người là hoạt động bao gồm ý thức và hành vi vì cái Thiện. Đồng thời hoạt động đạo đức là hoạt động có tính tự giác và tự nguyện. Tự nguyện, tự giác là nét đặc trưng cho xã hội loài người. Tự giác ở đây có nghĩa là hiểu rõ công việc của mình có ích cho xã hội và sự khao khát được hành động vì lợi ích đó. Tự nguyện là thực hiện hành động không vì sự bắt buộc từ bên ngoài mà do sự tự giác của chủ thể. Con vật với hoạt động sống bản năng không thể có được tính xã hội và tính tự giác của con người. Tự nguyện và tự giác quan hệ chặt chẽ nhau tạo thành một trong những cơ sở của tự do của con người. Ý thức đạo đức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng, tính tự nguyện và tự giác cao đem lại cho con người năng lực tự chủ , từ đó hành động một cách tự do. Đó là sức mạnh hữu hiệu của đạo đức.– Mục đích cao cả nhất của con người và xã hội là được tự do và hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó con người không ngừng phấn đấu một cách tự nguyện tự giác vì lợi ích của người khác và lợi ích của xã hội. Mặt khác hạnh phúc còn đòi hỏi có sự hài hoà lợi ích giữa cá nhân và lợi ích của cộng đồng. Vì lẽ đó mà thước đo của đạo đức tiêu chuẩn giá trị của đạo đức là tất cả những gì tích cực phù hợp với lợi ích chân chính của con người và tiến bộ xã hội. Nói một cách khác tiêu chuẩn của đạo đức là cái thiện, đối lập với cái thiện là cái ác. Như vậy có thể định nghĩa một cách khái quát về đạo đức như sauĐạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là sự tổng hợp những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ xã hội trong mối quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã Sự bao quát các mặt khác nhau của hiện tượng đạo đứcNhìn một cách toàn diện, ở góc độ triết học, đạo đức là một hình thái của ý thức xã hội; ở góc độ xã hội học, đạo đức là một loại quan hệ xã hội; ở góc độ tâm lý học, đạo đức là một loại hoạt động xã hội. Đạo đức học hiện đại hiểu và sử dụng khái niệm đạo đức theo cả 3 góc độ triết học, xã hội học và tâm lý học nói trên. Như vậy đạo đức là một hiện tượng gồm 3 mặt quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức và hoạt động đạo Quan hệ đạo đứcQuan hệ đạo đức là một loại quan hệ xã hội đặc biệt gồm các đặc điểm sauĐó là quan hệ giữa 2 chủ thể về lợi ích và nghĩa vụ đối với nhau cho nên quan hệ đạo đức có tính khách quan. Ngoài ra quan hệ đạo đức còn chứa đựng nhận thức và thái độ chủ quan của mỗi chủ thể. Vì thế, quan hệ đạo đức cũng có tính chủ hệ đạo đức được thực hiện một cách tự giác, tự Ý thức đạo đứcÝ thức đạo đức bao gồm tình cảm đạo đức, lý trí đạo đức và ý chí đạo đức.– Tình cảm đạo đức là những tình cảm làm động cơ cho hành vi đạo đức như tình cảm nghĩa vụ, lòng tự trọng, tình cảm gia đình, tình bạn, tình yêu, lòng yêu nước… Mọi cảm xúc của con người nảy sinh trong quan hệ đạo đức cũng là những biểu hiện của tình cảm đạo đức. Ví dụ sự cảm động, sự thông cảm, sự vui sướng, sự hối hận… Trái lại, sự dửng dưng, lạnh nhạt, thờ ơ… là tình trạng thiếu tình cảm đạo đức của chủ thể.– Lý trí đạo đức là toàn bộ những nguyên tắc, chuẩn mực và những quy tắc do xã hội đề ra và được từng cá nhân tiếp thu, từ đó định hướng cho tình cảm và hành vi đạo đức của mình một cách đúng đắn. Những nguyên tắc đạo đức là yêu cầu cơ bản, khái quát nhất. Mỗi nguyên tắc đó sẽ được cụ thể hóa ra thành những chuẩn mực cụ thể hơn. Mỗi chuẩn mực lại được cụ thể hóa thành những quy tắc khác nhau. Các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đều chứa đựng những giá trị đạo đức được xã hội thừa nhận.– Ý chí đạo đức Là năng lực xác định mục đích cho hành động và hướng hành động của mình khắc phục những khó khăn nhằm đạt mục đích đó; là sự thống nhất cao độ của lý trí và tình cảm đạo đức. Nó thể hiện niềm tin và sự quyết tâm cho nên nó là yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua mọi thử thách của hoàn cảnh để giữ gìn nhân phẩm và danh dự của Hoạt động đạo đứcHoạt động đạo đức là hoạt động được đánh giá về mặt đạo đức và được biểu hiện cụ thể bằng những hành vi đạo đức.– Hành vi đạo đức bao gồm 2 mặt cơ bảnMặt thứ nhất về mặt chủ quan Đó là động cơ của hành vi. Động cơ của hành vi là nguyên nhân bên trong thúc đẩy chủ thể hành động để thỏa mãn một nhu cầu nào đó. Động cơ bao gồm nhiều loại lợi ích, sở thích, tình cảm, lý tưởng và nhiều hiện tượng tâm lý khác. Động cơ của hành vi là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hành vi đạo thứ hai về mặt khách quan hành vi đó tạo ra một kết quả có lợi cho cuộc sống và sự phát triển của một chủ thể khác cá nhân, tập thể hoặc xã hội.– Đánh giá hành vi về mặt đạo đức là sự thẩm định gía trị đạo đức của hành vi dựa trên những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội. Đánh giá một hành vi đạo đức bao gồm sự đánh giá kết quả hành vi tức là đánh giá yếu tố khách quan và đánh giá cả động cơ của hành vi tức là yếu tố chủ quan , trong đó động cơ của hành vi được xem là tiêu chuẩn quan trọng hàng vi đạo đức là hành vi được quyết định bởi động cơ làm việc vì lợi ích của người khác và xã hội một cách vô tư, bởi sự đồng cảm và lòng nhân đạo. Đồng thời động cơ đạo đức có tính tự giác, tự đánh giá động cơ của hành vi phức tạp hơn nhiều so với sự đánh giá kết quả của hành vi. Động cơ hành vi thường bị ẩn kín, thường không biểu hiện ra một cách thực tại và trực quan, phải nhờ vào hoạt động của lý trí mới nhận ra được. Nhưng chúng ta chẳng có cách nào khác hơn là căn cứ vào việc làm cụ thể của con người để hiểu động cơ của họ. Bởi vì những ý định, những động cơ bên trong không tồn tại một cách cô lập với cái khách quan bên ngoài; nguyên nhân biểu hiện ở kết quả; bản chất và hiện tượng vừa mâu thuẫn vừa thống nhất nhau. đã đưa ra lời giải đáp rõ ràng về vấn đề này Chúng ta sẽ phán đoán về “những ý đồ và tình cảm” của những cá nhân căn cứ vào những dấu hiệu nào? Rõ ràng là chỉ có một dấu hiệu thôi- những hành động của những cá nhân Chức năng của đạo đứcĐạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc từ trong tồn tại xã hội đồng thời nó cũng tác động trở lại đối với sự phát triển của tồn tại xã hội. Nó góp phần quan trọng vào việc xây dựng mối quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội. Đạo đức giáo dục con người, giúp họ nhận thức và điều chỉnh suy nghĩ, hành động phù hợp với những yêu cầu xã hội. Đạo đức có những chức năng cơ bản sau đâya/ Chức năng giáo dục– Đạo đức có tác dụng hình thành ở con người những quan điểm về bản chất của đạo đức, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức; nhờ đó con người hiểu được điều gì nên làm, điều gì không nên làm.– Thông qua hoạt động đạo đức của bản thân, mỗi người tự mình càng hiểu rõ hơn vai trò to lớn của lương tâm, của danh dự và các phẩm chất đạo đức của cá nhân đối với sự tiến bộ của chính mình và sự tiến bộ của cộng đồng. Đó là những bài học đạo đức mà chủ thể tự rút ra được nên chúng có giá trị sâu sắc và lâu bền. Trên cơ sở đó, chủ thể đạo đức càng tin tưởng và tích cực làm điều thiện.– Những tấm gương đạo đức cao cả cùng với những giá trị của nó có sức rung cảm mạnh mẽ làm thức tỉnh những tình cảm đạo đức trong tâm hồn con người, có sức lôi cuốn, thôi thúc con người học tập, rèn luyện vươn tới cái tốt đẹp, cái thiện. Thực tiễn đấu tranh cách mạng cho thấy những người cộng sản là những người sáng tạo nên những giá trị đạo đức cao cả. Đó là tinh thần chiến đấu dũng cảm, sự hy sinh quên mình… vì tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Những tấm gương ấy có sức thuyết phục và cổ vũ con người học tập, tu dưỡng để xứng đáng hơn nữa và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng xã hội Hồ đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Người coi đạo đức là cái gốc của cán bộ, đảng viên. Noi gương của Người, nhiều cán bộ, chiến sĩ đã lao động, chiến đấu quên mình, sẵn sàng hy sinh, vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì lý tưởng cao đẹp của con vậy, đạo đức không những giáo dục con người mà còn giúp con người nâng cao năng lực tự giáo dục mình. Do đó, công tác giáo dục đạo đức xã hội chủ nghĩa góp phần quan trọng vào việc hình thành, phát triển nhân cách con người mớib/ Chức năng nhận thức còn gọi là chức năng đánh giá.Các quan điểm, tư tưởng đạo đức là kết quả của sự phản ánh đời sống xã hội, đồng thời chúng còn là công cụ giúp con người nhận thức về xã hội. Chức năng nhận thức của đạo đức thường tác động theo hai xu hướngHướng thứ nhất Những quan điểm đạo đức tiến bộ, khoa học giúp con người nhận thức, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức trong đời sống ; giúp con người đánh giá đúng cái gì là thiện, cái gì là ác; cũng như tự đánh giá một cách đúng đắn những suy nghĩ, hành vi của bản thân mình. Trên cơ sở đó con người định hướng một cách đúng đắn hành vi của mình trong thực tiễn. Đồng thời thực tiễn đạo đức của nhân dân lao động trong quá trình xây dựng xã hội mới có tác dụng nâng cao trình độ nhận thức và năng lực đánh giá đạo đức ở mỗi người ngày càng chính xác và sâu sắc thứ hai Ngược lại, những quan điểm sai lầm về đạo đức không những làm cho hành động của con người dễ phạm sai lầm mà còn làm cho họ thất vọng, mất niềm tin vào cuộc sống và nhất định sẽ dẫn tới mức giảm sút ý chí cũng như năng lực nhận thức và hành Chức năng điều chỉnh hành vi– Trong xã hội, cần có các quy tắc, chuẩn mực nhằm kết hợp bằng cách này hay cách khác lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Cho nên điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội là một yêu cầu khách quan. Có nhiều quy tắc, chuẩn mực để đều chỉnh hành vi của con người của pháp luật, của tôn giáo, của phong tục tập quán và của đạo chỉnh hành vi bằng đạo đức có đặc điểm là tự điều chỉnh. Sức mạnh điều chỉnh hành vi bằng đạo đức là sức mạnh của lương tâm, sức mạnh của dư luận xã hội. Nhờ nắm được những quan điểm đạo đức tiến bộ, hiểu rõ vai trò của đạo đức, các chủ thể đạo đức luôn tự định hướng hoạt động của mình vào lợi ích chung, trên cơ sở đó mà họ cũng được thỏa mãn những nhu cầu đạo đức và những lợi ích chính đáng của mình. Để cho sự điều chỉnh có hiệu quả thì mỗi người không chỉ điều chỉnh từ trong tình cảm và nhận thức mà điều quan trọng hơn là biến những mong muốn tốt đẹp thành hoạt động thực tiễn. Trong đời sống, nhờ những mối quan hệ đạo đức được thiết lập mà con người hiểu rõ mình, hiểu sâu sắc thêm những giá trị đạo năng giáo dục, chức năng nhận thức và chức năng. điều chỉnh của đạo đức gắn bó mật thiết với nhau. ĐĐ hình thành ở con người năng lực nhân thức, đánh giá đúng đâu là thiện, đâu là ác. Trên cơ sở đó nâng cao năng lực tự giáo dục, biết được nghĩa vụ đạo đức của mình và tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì cái thiện. Do vậy giáo dục đạo đức không những có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách mà còn góp phần ổn định và phát triển xã Cấu trúc của đạo đứcĐạo đức vận hành như là một hệ thống tương đối độc lập của xã hội. Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức. Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ. Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định. Chẳng hạn xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nếu xét nó trong mối quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức. Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến cái đặc thù với cái đơn chất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá Ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức về hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và những quan hệ đạo đức đang tồn tại. Mặt khác, nó còn bao trùm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức con quan hệ giữa người và người về mặt đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và giá trị đạo đức. Đó là ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và tinh thần tập thể. Về mặt giá trị của hành vi đạo đức cũng có ranh giới lao động là hành vi thiện. Ăn bám bóc lột là vô nhân đạo. Ngay cả trong một hành vi thiện mức độ giá trị của nó không phải lúc nào cũng ngang nhau, mà có những thang bậc nhất định cao cả, tốt, được. Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những qui tắc đạo đức xã hội đặt ra; nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức. Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảm đạo đức của con người. Tóm lại, ý thức đạo đức về mặt cấu trúc gồm tri thức đạo tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức trong cuộc thức và thực tiễn đạo đức luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức con người, của một giai cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại lịch sử. Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác. Nếu không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức không đạt tới giá trị, sẽ rơi vào trừu tượng theo kiểu các giáo lý của tôn tiễn đạo đức được biểu hiện như sự tương trợ, giúp đỡ, cử chỉ nghĩa hiệp, hành động nghĩa vụ…Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở của ý thức đạo Quan hệ đạo hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tín hiệu thực của bản chất xã hội của con quan hệ đạo đức không chỉ hình thành nên giữa các cá nhân, mà còn giữa cá nhân với xã hội, với những mặt riêng biệt của xã hội chẳng hạn với lao động, với văn hoá tinh thần trong chừng mực những mặt này liên quan đến các lợi ích chứa đựng trong các mối quan hệ hệ đạo đức được hình thành và phát triển như những qui luật tất yếu của xã hội, nó xác định những nhu cầu khách quan của xã hội, nó “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hệ đạo đức tồn tại một cách khách quan và luôn luôn biến đổi qua các thời đại lịch sử và chính nó là một trong nhữg cơ sở để hình thành nên ý thức đạo lại, ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là một yếu tố tạo nên cấu trúc đạo đức. Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập, mà liên hệ tác động nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo Đạo đức xã hội và đạo đức cá đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác định, và là phương thức điều chỉnh hành vi của các cá nhân thuộc cộng đồng nhằm hình thành; phát triển hoàn thiện tồn tại xã hội đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của cá nhân thuộc cộng đồng. Nó tồn tại như là một hệ thống kinh nghiệm xã hội mang tính phổ biến của đời sống đạo đức của cộng đức cá nhân là đạo đức của những cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phản ảnh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là thể hiện riêng lẻ của tồn tại xã hội của cộng đồng về lợi ích và hoạt động của các cá hoạt động thực tiễn và nhận thức của mình, các cá nhân thu nhận đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lí tưởng, chuẩn mực, tư tưởng, đánh giá đạo đức đã được hình thành nên trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân…Trước mắt cá nhân đạo đức xã hội tồn tại một cách khách quan mà trong cuộc sống của mình, cá nhân tất yếu phải nhận thức, tiếp thu và thực đức xã hội hay đạo đức cá nhân là sự thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất. Đạo đức cá nhân là sự biểu hiện độc đáo của đạo đức xã hội, nhưng không bao hàm hết thảy mọi nội dung, đặc điểm của đạo đức xã hội. Mỗi cá nhân tiếp thu lĩnh hội đạo đức xã hội khác nhau và ảnh hưởng đến đạo đức xã hội cũng khác nhau. Đạo đức xã hội không thể là số cộng của đạo đức cá nhân mà nó tổng hợp những nhu cầu phổ biến được đúc kết thành những tinh hoa của đạo đức cá nhân. Nó trở thành cái chung của một giai cấp, một cộng đồng xã hội, một thời đại nhất định, nó được duy trì và cũng cố bằng những phong tục, tập quán, truyền thống, những di sản văn hóa vật chất và tinh thần, được biến đổi phát triển thông qua hoạt động sản xuất tinh thần và giao tiếp xã hệ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là quan hệ giữa những chuẩn mực chung mang tính phát triển đặc thù trong từng xã hội với những phẩm chất hành vi những yêu cầu cụ thể hàng ngày, quan hệ giữa lý tưởng xã hội và hiện thực của cá nhân, giữa trí tuệ, tri thức xã hội với tình cảm, ý chí và năng lực hoạt động đạo đức cụ thể của cá nhân. Trong số các loại đạo đức là những quy tắc, áp dụng, tôn giáo, thực dụng, sử thi, khắc kỷ, trong số những người khác. Tuy nhiên, nhiều lần chúng có thể trộn lẫn với nhau, vì rất khó tách chúng đức là một nhánh của triết học nghiên cứu hành vi của con người bằng cách thiết lập cái gì là "tốt" và cái gì là "xấu". Có thể nói, đạo đức chịu trách nhiệm nghiên cứu về đạo đức, đức hạnh, hạnh phúc và nghĩa vụ. Mỗi khía cạnh này khác nhau tùy theo lĩnh vực nơi nó hoạt động và trong tình huống mà nó được đặt..Vì lý do này, đạo đức trình bày một số lớp học cho phép con người phản ứng với các vấn đề được đưa ra hàng ngày, đặc biệt khi phải đưa ra quyết định. Danh sách 10 loại đạo đức quan trọng nhất Đạo đức sử thiLoại đạo đức này dựa trên suy nghĩ của triết gia Epicurus, người đã thiết lập rằng niềm vui là mục đích của tất cả con tin rằng mọi thứ tạo ra khoái cảm đều tốt, trong khi ông cho rằng mọi thứ tạo ra nỗi đau đều xấu. Tuy nhiên, Epicurus luôn nói rằng niềm vui nên hợp lý và vừa phải. Đạo đức khắc kỷNó xác định rằng con người phải sống theo quy luật tự nhiên. Vì lý do này, điều cần thiết là con người trở thành những người có đạo đức và mạnh mẽ, có thể chịu đựng mọi thứ đi qua họ, mà không thể hiện bất kỳ cảm giác nào họ không nên cảm thấy buồn vì thất bại hoặc hạnh phúc vì chiến thắng.Đạo đức chuẩn mực Loại đạo đức này chịu trách nhiệm nghiên cứu những gì con người nên nghĩ là "tốt" hoặc đó là "xấu" theo các giá trị đạo đạo đức này nghiên cứu những gì nên hoặc những gì nên làm và những gì không và không nên làm. Đối với điều này, cần thiết phải thiết lập các tiêu chuẩn đạo đức sẽ phục vụ để điều chỉnh hành vi của con âm Loại đạo đức chịu trách nhiệm nghiên cứu nguồn gốc và ý nghĩa của đạo đức, đạo đức, đánh giá giá trị, nghĩa là mọi thứ liên quan đến các nguyên tắc đạo đức tôn giáoLoại đạo đức này là những gì chịu ảnh hưởng của tôn giáo. Mỗi tôn giáo tuân theo các quy tắc cụ thể, theo đó đạo đức tôn giáo được phân chia theo các tôn giáo hiện có. Chẳng hạn, có đạo đức Kitô giáo, đạo đức Hồi giáo, đạo đức Hindu, trong số những người đức Kitô giáoĐạo đức Kitô giáo là một trong những người chịu trách nhiệm đảm bảo tuân thủ các giá trị được dạy trong Tin mừng, nghĩa là tìm kiếm rằng mọi người hành động như Chúa Giêsu đã hành đức HinduĐạo đức Ấn Độ giáo là một đặc trưng của việc tìm kiếm hòa bình, vì điều này cần thiết là con người phải tự chủ, có lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sinh và tránh xa bạo lực bằng cách duy trì sự trong sạch và chân đức Hồi giáoĐạo đức Hồi giáo có trách nhiệm đảm bảo tuân thủ các điều răn của kinh Koran. Ông cũng tìm kiếm rằng con người đi theo bước chân của Muhammad, một nhà tiên tri Hồi giáo được coi là một ví dụ để noi đức ứng dụng Loại đạo đức này đề cập đến ứng dụng của nó trên cơ sở hàng ngày, nghĩa là tại nơi làm việc, trong thế giới kinh doanh, trong y học, trong lĩnh vực pháp lý, trong chính trị, trong mỗi và mọi hoạt động con người thực đức kinh nghiệmĐạo đức kinh nghiệm là những gì được tạo ra trong khi sống, có nghĩa là, đó là những gì phát sinh từ kinh nghiệm của bản thân và quan sát trực đức công dân Đạo đức công dân là một trong những người chịu trách nhiệm cho con người cư xử theo cách "đúng" trong xã hội, vì nó sẽ phụ thuộc vào hoạt động đúng đắn của nó. Một số ví dụ về đạo đức công dân sẽ là tôn trọng các tổ chức công cộng và tư nhân, tôn trọng các biểu tượng quốc gia, luật pháp, trong số những người đức nghề nghiệpĐạo đức nghề nghiệp là một trong những người chịu trách nhiệm nghiên cứu các hành vi và giá trị trong cuộc sống chuyên nghiệp của con đức nghề nghiệp được chia thành nhiều loại, vì mỗi nghề nghiệp có quy tắc đạo đức riêng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp chúng tương tự nhau. Do đó, có đạo đức y tế, đạo đức quân sự, đạo đức giảng dạy, đạo đức pháp lý, trong số những người đứcĐạo đức y khoa là một trong đó được áp dụng trong lĩnh vực y tế và y tế. Nó có một bộ quy tắc điều chỉnh hành vi của các chuyên gia y đức y khoa chỉ định mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân nên như thế nào, bệnh tật và bệnh tật của bệnh nhân nên được quản lý như thế nào, hành vi nên như thế nào giữa các đồng nghiệp, giữa những người khác. Đạo đứcĐạo đức quân sự dựa trên sự vâng lời và sau đây của các giá trị đạo đức. Do đó, người ta nói rằng một người lính có đạo đức khi anh ta tuân theo cấp nhiên, điều cần thiết là mỗi người lính phải nhận thức được các giá trị được phép xác định khi nào đơn hàng không được thực dụ nếu một người lính được yêu cầu tra tấn tù nhân, việc tuân thủ mệnh lệnh đó là phi đạo đức vì quyền con người sẽ bị vi đức Logic của nó xác định rằng những gì mang lại lợi ích cho phần lớn dân số là tốt. Do đó, điều tốt và điều xấu sẽ phụ thuộc vào mức độ hữu ích của nó đối với nhân dụ nếu những người chống đối xã hội đột nhập vào một văn phòng nói rằng họ sẽ giết tất cả mọi người nếu họ không cho một người cụ là một vấn đề nan giải họ nên làm gì? Họ có nên giao hàng cho người đó để sống không??.Trong trường hợp này, một người thực dụng có thể xem xét việc trao cho người mà họ đang tìm kiếm, vì điều này sẽ khiến một số lượng lớn hơn các cá nhân được cứu. Rõ ràng là điều tốt sẽ phụ thuộc vào số người sẽ được hưởng lợi từ hành động. Tài liệu tham khảoTruy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018, từ loại đạo đức khác nhau. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018, từ loại đạo đức nghề nghiệp. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018, từ loại đạo đức chính. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018, từ loại đạo đức Businees. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018, từ thiệu về đạo đức. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2018, từ cập ngày 3 tháng 1 năm 2018, từ - Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, một chế định xã hội thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và không trừ lĩnh vực nào. Đạo đức khác với những hình thức điều chỉnh hoạt động cộng đồng khác pháp quyền, những quy chế hành chính sản xuất, những sắc lệnh nhà nước, những truyền thống dân tộc… ở phương thức luận chứng và thực hiện những yêu cầu của mình. Trong đạo đức, sự cần thiết xã hội, những nhu cầu, lợi ích của xã hội hoặc của các giai tầng biểu hiện dưới hình thức những quy định và những sự đánh giá đã được mọi người thừa nhận và thành hình một cách tự phát, được củng cố bằng sức mạnh của những “tấm gương” của cộng đồng, của thói quen, phong tục, dư luận xã hội. Cho nên, những yêu cầu của đạo đức mang hình thức bổn phận phải làm không riêng một ai, như nhau đối với tất cả, nhưng không chịu sự ra lệnh của ai cả. Những yêu cầu này có tính chất tương đối bền vững. Chúng khác phong tục đơn giản hoặc truyền thống đã được duy trì bởi sức mạnh của một trật tự đã ổn định, ở chỗ chúng có cơ sở tư tưởng dưới hình thức quan niệm về việc con người phải sống và phải cư xử như thế nào. Đạo đức khác pháp luật ở một số điểm căn bản. Thứ nhất, việc mỗi người thực hiện những yêu cầu đạo đức là được tất cả mọi người kiểm tra, hơn nữa, uy tín đạo đức của một cá nhân không hề gắn liền với bất kỳ quyền hạn chính thức nào. Thứ hai, việc thực hiện các yêu cầu đạo đức chỉ được phê chuẩn bằng những hình thức tác động tinh thần nhận xét của xã hội, tán thành hoặc lên án những hành vi đã được thực hiện. Điều này quy định vai trò của ý thức trong đạo đức là tương đối lớn hơn so với những hình thức kiểm tra khác của xã hội; đồng thời, ý thức đó có thể biểu hiện dưới hình thức duy lý của những khái niệm và phán đoán, cũng như dưới hình thức cảm xúc của tình cảm, động cơ, ham muốn. Bên cạnh ý thức xã hội, ý thức cá nhân cũng đóng một vai trò không kém phần quan trọng trong đạo đức. Dựa vào những quan niệm đạo đức do xã hội đề ra, lĩnh hội những quan niệm đó trong quá trình giáo dục, với mức độ đáng kể, cá nhân có thể tự điều chỉnh hành vi của mình và tự nhận định về ý nghĩa đạo đức của tất cả những gì diễn ra xung quanh. Nhờ vậy, trong đạo đức, cá nhân thể hiện không chỉ với tư cách là khách thể, mà còn với tư cách là chủ thể có ý thức của sự kiểm tra xã hội, có nghĩa là nhân cách đạo đức. Vốn là một thành tạo xã hội phức tạp, đạo đức bao gồm hoạt động theo quan điểm nội dung và động cơ của nó việc mọi người thừa nhận phải cư xử như thế nào đó, hành vi của một tập hợp người, phong tục; những quan hệ đạo đức điều chỉnh hoạt động đó và được biểu hiện trong những hình thức khác nhau của bổn phận, của yêu cầu đối với con người lương tâm, nghĩa vụ, phẩm cách, tiêu chuẩn đạo đức, trách nhiệm; ý thức đạo đức phản ánh những quan hệ trên ở dạng những quan niệm thích hợp những tiêu chuẩn, những nguyên tắc, những lý tưởng xã hội và đạo đức, những khái niệm thiện ác, công bằng và bất công. Tất cả những hình thức này của ý thức đạo đức được hợp nhất thành hệ thống được sắp xếp một cách logic cho phép không chỉ quy định, mà còn luận chứng và đánh giá một cách nhất định những hành động đạo đức. Áp dụng vào những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đạo đức hình thành những quy tắc đặc biệt đạo đức lao động, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức sinh hoạt, đạo đức gia đình… mà những quy tắc này chỉ hợp thành những lĩnh vực tương đối độc lập có một luận cứ thống nhất của đạo đức. Đạo đức là một hiện tượng mang tính lịch sử. Xuất hiện vào những trình độ hình thành ban đầu của xã hội loài người, đạo đức được phát triển trong tiến trình biến đổi các quan hệ về kinh tế và các quan hệ xã hội khác, trong tiến trình tiến bộ văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của loài người. Bên cạnh những yếu tố chung cho loài người, đạo đức bao gồm những tiêu chuẩn, những nguyên tắc, những lý tưởng… có tính chất nhất thời về lịch sử và có tính chất của một cộng đồng người cũng như giai tầng cụ thể trong xã hội. t/h Triết Học – - About us This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it. > TỪ ĐIỂN TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ > TỪ ĐIỂN TRIẾT HỌC CƠ SỞ HẠ TẦNG - KIẾN TRÚC THƯỢNG TẦNG > TỪ ĐIỂN TRIẾT HỌC BỘ LẠC - BỘ TỘC > 12 CUNG HOÀNG ĐẠO BẢO BÌNH - AQUARIUS 20/01 - 18/02 > PHONG THỦY TỔNG HỢP NGŨ HÀNH TRONG PHONG THỦY CỦA KHU VƯỜN “Đạo đức học đức hạnh” mô tả một cách tiếp cận triết học nhất định đối với các câu hỏi về đạo đức. Đó là một lối suy nghĩ về đạo đức đặc trưng của các triết gia Hy Lạp và La Mã cổ đại, đặc biệt là Socrates , Plato và Aristotle . Nhưng nó đã trở nên phổ biến trở lại kể từ cuối thế kỷ 20 do công của các nhà tư tưởng như Elizabeth Anscombe, Philippa Foot và Alasdair MacIntyre. Câu hỏi trung tâm về đạo đức đức hạnh Tôi phải sống như thế nào? Đây có một tuyên bố chính xác là câu hỏi cơ bản nhất mà bạn có thể tự đặt ra cho mình. Nhưng nói về mặt triết học, có một câu hỏi khác có lẽ phải được trả lời trước tiên đó là, Tôi nên quyết định cách sống như thế nào? Có một số câu trả lời có sẵn trong truyền thống triết học phương Tây Câu trả lời mang tính tôn giáo Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một bộ quy tắc để tuân theo. Những điều này được trình bày trong kinh thánh ví dụ Kinh thánh tiếng Do Thái, Tân ước, kinh Koran. Cách sống đúng đắn là tuân theo những quy tắc này. Đó là lẽ sống tốt đẹp của một con người. Chủ nghĩa lợi dụng Đây là quan điểm cho rằng điều quan trọng nhất trên thế giới trong việc thúc đẩy hạnh phúc và tránh đau khổ. Vì vậy, cách sống đúng đắn, nói chung, là cố gắng thúc đẩy hạnh phúc nhất có thể mà bạn có thể, cho cả của bạn và của người khác - đặc biệt là những người xung quanh bạn - trong khi cố gắng tránh gây ra đau đớn hoặc bất hạnh. Đạo đức học Kant Nhà triết học vĩ đại người Đức I mmanuel Kant lập luận rằng quy tắc cơ bản mà chúng ta nên tuân theo không phải là “Tuân theo luật của Chúa”, cũng không phải là “Thúc đẩy hạnh phúc”. Thay vào đó, ông tuyên bố rằng nguyên tắc cơ bản của đạo đức là Luôn hành động theo cách mà bạn có thể thành thật muốn mọi người hành động nếu họ ở trong tình huống tương tự. Ông tuyên bố rằng bất kỳ ai tuân thủ quy tắc này sẽ hành xử hoàn toàn nhất quán và hợp lý, và họ sẽ không ngừng làm điều đúng đắn. Điểm chung của cả ba cách tiếp cận là họ xem đạo đức như một vấn đề tuân theo các quy tắc nhất định. Có những quy tắc rất chung, cơ bản, chẳng hạn như "Đối xử với người khác như cách bạn muốn được đối xử" hoặc "Thúc đẩy hạnh phúc". Và có rất nhiều quy tắc cụ thể hơn có thể được suy ra từ những nguyên tắc chung này ví dụ "Không làm chứng dối" hoặc "Giúp đỡ người nghèo." Cuộc sống tốt về mặt đạo đức là một cuộc sống được sống theo những nguyên tắc này; hành vi sai trái xảy ra khi các quy tắc bị phá vỡ. Trọng tâm là nghĩa vụ, nghĩa vụ và tính đúng hay sai của các hành động. Cách nghĩ của Plato và Aristotle về đạo đức có một điểm nhấn khác. Họ cũng hỏi "Một người nên sống như thế nào?" Nhưng câu hỏi này tương đương với “Người ta muốn trở thành người như thế nào?” Nghĩa là loại phẩm chất và đặc điểm tính cách nào đáng ngưỡng mộ và đáng mơ ước. Cái nào cần được trau dồi ở chính chúng ta và những người khác? Và chúng ta nên tìm cách loại bỏ những đặc điểm nào? Tài khoản của Aristotle về đức hạnh Trong tác phẩm vĩ đại của mình, Đạo đức học Nicomachean , Aristotle đưa ra một phân tích chi tiết về các đức tính đã có ảnh hưởng to lớn và là điểm khởi đầu cho hầu hết các cuộc thảo luận về đạo đức học. Thuật ngữ Hy Lạp thường được dịch là "đức hạnh" là arête. Nói chung, arête là một loại xuất sắc. Nó là một phẩm chất cho phép một vật thực hiện mục đích hoặc chức năng của nó. Loại xuất sắc được đề cập có thể dành riêng cho những loại sự vật cụ thể. Ví dụ, đức tính chính của ngựa đua là nhanh nhẹn; đức tính chính của một con dao là phải sắc bén. Những người thực hiện các chức năng cụ thể cũng đòi hỏi những đức tính cụ thể ví dụ như một kế toán viên có năng lực phải giỏi các con số; một người lính cần phải dũng cảm về thể chất. Nhưng cũng có những đức tính tốt cho bất kỳcon người cần sở hữu những phẩm chất giúp họ có thể sống tốt đẹp và thăng hoa như một con người. Vì Aristotle cho rằng điều phân biệt con người với tất cả các loài động vật khác là tính hợp lý của chúng ta, cuộc sống tốt đẹp cho con người là cuộc sống trong đó các khả năng lý trí được thực hiện đầy đủ. Chúng bao gồm những thứ như khả năng kết bạn, sự tham gia của người dân, khả năng thưởng thức thẩm mỹ và sự tìm hiểu về trí vậy, đối với Aristotle, cuộc sống của một củ khoai tây đi văng tìm thú vui không phải là một ví dụ về cuộc sống tốt đẹp. Aristotle phân biệt giữa các đức tính trí tuệ, được thực hiện trong quá trình suy nghĩ và các đức tính đạo đức, được thực hiện thông qua hành động. Ông quan niệm phẩm hạnh đạo đức là một đặc điểm tính cách tốt để có được và một người thể hiện theo thói quen. Điểm cuối cùng về hành vi theo thói quen này là quan trọng. Người hào phóng là người thường xuyên hào phóng chứ không chỉ hào phóng thỉnh thoảng. Một người chỉ giữ một số lời hứa của họ không có đức tính đáng tin cậy. Thực sự cóđức tính để nó ăn sâu vào nhân cách của bạn. Một cách để đạt được điều này là tiếp tục thực hành đức tính để nó trở thành thói quen. Vì vậy, để trở thành một người thực sự hào phóng, bạn nên tiếp tục thực hiện những hành động hào phóng cho đến khi sự hào phóng đến với bạn một cách tự nhiên và dễ dàng; như người ta nói, nó trở thành “bản chất thứ hai”. Aristotle lập luận rằng mỗi phẩm hạnh đạo đức là một loại ý nghĩa nằm giữa hai thái cực. Một thái cực liên quan đến sự thiếu hụt đức tính được đề cập, thái cực khác liên quan đến việc sở hữu nó đến mức quá mức. Ví dụ, "Quá ít can đảm = hèn nhát; quá nhiều can đảm = liều lĩnh. Quá ít hào phóng = keo kiệt; quá hào phóng = ngông cuồng." Đây là học thuyết nổi tiếng về “ý nghĩa vàng”. “Ý nghĩa”, như Aristotle hiểu, nó không phải là một dạng điểm nửa trong toán học giữa hai thái cực; đúng hơn, nó là những gì phù hợp trong hoàn cảnh. Thực sự, kết quả của lập luận của Aristotle dường như là bất kỳ đặc điểm nào mà chúng ta coi là một đức tính đều được rèn luyện bằng trí tuệ. Sự khôn ngoan thực tế từ tiếng Hy Lạp là phronesis , mặc dù nói một cách chính xác là một đức tính trí tuệ, hóa ra lại là chìa khóa tuyệt đối để trở thành một người tốt và sống một cuộc sống tốt đẹp. Có trí tuệ thực tế có nghĩa là có thể đánh giá những gì được yêu cầu trong bất kỳ tình huống nào. Điều này bao gồm việc biết khi nào người ta nên tuân theo một quy tắc và khi nào người ta nên phá vỡ quy tắc đó. Và nó gọi là kiến ​​thức, kinh nghiệm, sự nhạy cảm về cảm xúc, khả năng nhận thức và lý trí. Ưu điểm của Đạo đức đức hạnh Đạo đức học đức hạnh chắc chắn không mất đi sau Aristotle. Các nhà Khắc kỷ La Mã như Seneca và Marcus Aurelius cũng tập trung vào tính cách hơn là các nguyên tắc trừu tượng. Và họ cũng coi phẩm hạnh đạo đức là yếu tố cấu thành cuộc sống tốt - nghĩa là, trở thành người tốt về mặt đạo đức là yếu tố then chốt để sống tốt và hạnh phúc. Không ai thiếu đức hạnh có thể sống tốt, ngay cả khi họ có của cải, quyền lực và nhiều thú vui. Các nhà tư tưởng sau này như Thomas Aquinas 1225-1274 và David Hume 1711-1776 cũng đưa ra các triết lý đạo đức trong đó các nhân đức đóng vai trò trung tâm. Nhưng công bằng mà nói, đạo đức nhân đức đã lùi bước trong thế kỷ 19 và 20. Sự phục hưng của đạo đức học đạo đức vào giữa cuối thế kỷ 20 được thúc đẩy bởi sự không hài lòng với đạo đức học theo định hướng quy tắc, và sự đánh giá ngày càng cao về một số ưu điểm của phương pháp tiếp cận Aristoteles. Những lợi thế này bao gồm những điều sau đây. Đạo đức học đức hạnh đưa ra một quan niệm rộng hơn về đạo đức học nói chung. Nó không coi triết học đạo đức chỉ giới hạn trong việc tìm ra hành động nào là đúng và hành động nào là sai. Nó cũng hỏi điều gì tạo nên hạnh phúc hay sự hưng thịnh của con người. Chúng ta có thể không có bổn phận phải phát triển theo cách mà chúng ta có bổn phận không phạm tội giết người; nhưng những câu hỏi về hạnh phúc vẫn là những câu hỏi chính đáng cho các triết gia đạo đức cần giải quyết. Nó tránh được những điều không linh hoạt của đạo đức định hướng quy tắc. Theo Kant, chẳng hạn, chúng ta phải luôn luôn và trong mọi hoàn cảnh tuân theo nguyên tắc đạo đức cơ bản của ông, “mệnh lệnh có tính xác định” của ông. Điều này khiến anh ta kết luận rằng không bao giờ được nói dối hoặc thất hứa. Nhưng người khôn ngoan về mặt đạo đức chính xác là người nhận ra thời điểm hành động tốt nhất là phá vỡ các quy tắc thông thường. Đạo đức học đức hạnh đưa ra các quy tắc ngón tay cái, không phải là sự cứng nhắc bằng sắt. Bởi vì nó liên quan đến tính cách, với con người như thế nào, đạo đức học nhân đức quan tâm nhiều hơn đến trạng thái và cảm xúc bên trong của chúng ta thay vì chỉ tập trung vào hành động. Đối với một người thực dụng, điều quan trọng là bạn làm đúng - nghĩa là bạn thúc đẩy niềm hạnh phúc lớn nhất của con số lớn nhất hoặc tuân theo một quy tắc phù hợp với mục tiêu này. Nhưng trên thực tế, đây không phải là tất cả những gì chúng ta quan tâm. Điều quan trọng là tại sao một người nào đó hào phóng hay hữu ích hoặc trung thực. Người trung thực đơn giản vì họ nghĩ rằng trung thực là tốt cho công việc kinh doanh của họ thì ít đáng ngưỡng mộ hơn người trung thực xuyên suốt và không lừa dối khách hàng ngay cả khi họ có thể chắc chắn rằng không ai phát hiện ra họ. Đạo đức học đức hạnh cũng đã mở ra cánh cửa cho một số cách tiếp cận và hiểu biết mới lạ do các nhà tư tưởng nữ quyền đi tiên phong, những người cho rằng triết học đạo đức truyền thống đã nhấn mạnh các nguyên tắc trừu tượng đối với các mối quan hệ cụ thể giữa các cá nhân. Chẳng hạn, mối quan hệ ban đầu giữa mẹ và con có thể là một trong những nền tảng thiết yếu của đời sống đạo đức, vừa cung cấp kinh nghiệm vừa là tấm gương về sự quan tâm yêu thương dành cho người khác. Phản đối đạo đức đức hạnh Không cần phải nói, đạo đức nhân đức có những người chỉ trích nó. Dưới đây là một số lời chỉ trích phổ biến nhất chống lại nó. "Làm thế nào tôi có thể phát triển?" thực sự chỉ là một cách đặt câu hỏi "Điều gì sẽ khiến tôi hạnh phúc?" Đây có thể là một câu hỏi hoàn toàn hợp lý để hỏi, nhưng nó thực sự không phải là một câu hỏi đạo đức. Đó là một câu hỏi về tư lợi của một người. Tuy nhiên, đạo đức là tất cả về cách chúng ta đối xử với người khác. Vì vậy, sự mở rộng đạo đức học này bao gồm các câu hỏi về sự phát triển mạnh mẽ sẽ khiến lý thuyết đạo đức không còn quan tâm đúng mức đến nó. Đạo đức đức hạnh tự nó không thể thực sự trả lời bất kỳ tình huống khó xử về đạo đức cụ thể nào. Nó không có công cụ để làm điều này. Giả sử bạn phải quyết định có nên nói dối hay không để cứu bạn mình khỏi xấu hổ. Một số lý thuyết đạo đức cung cấp cho bạn hướng dẫn thực sự. Nhưng đạo đức nhân đức thì không. Nó chỉ nói, "Hãy làm những gì một người có đạo đức sẽ làm", điều này không được sử dụng nhiều. Đạo đức được quan tâm, trong số những thứ khác, với việc khen ngợi và đổ lỗi cho mọi người về cách họ cư xử. Nhưng tính cách của một người ở một mức độ khá lớn là do may mắn. Con người có tính khí tự nhiên dũng cảm hoặc nhút nhát, đam mê hoặc dè dặt, tự tin hoặc thận trọng. Thật khó để thay đổi những đặc điểm bẩm sinh này. Hơn nữa, hoàn cảnh mà một người được nuôi dạy cũng là một yếu tố khác hình thành nhân cách đạo đức của họ nhưng nằm ngoài tầm kiểm soát của họ. Vì vậy, đạo đức nhân đức có xu hướng khen ngợi và đổ lỗi cho con người chỉ vì may mắn. Đương nhiên, các nhà đạo đức học tin rằng họ có thể trả lời những phản đối này. Nhưng ngay cả những nhà phê bình đưa ra chúng cũng có thể đồng ý rằng sự phục hưng của đạo đức học trong thời gian gần đây đã làm phong phú thêm triết học đạo đức và mở rộng phạm vi của nó một cách lành mạnh.

triết học đạo đức